Cấm đi khỏi nơi cư trú không phải là “giam lỏng”: Những điểm mới của Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam và cấm đi khỏi nơi cư trú năm 2025

Thứ năm - 09/07/2026 04:41 79 0

Cấm đi khỏi nơi cư trú không phải là “giam lỏng”: Những điểm mới của Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam và cấm đi khỏi nơi cư trú năm 2025

Trong tố tụng hình sự, “Cấm đi khỏi nơi cư trú” là một biện pháp ngăn chặn thường được áp dụng đối với người bị buộc tội trong những trường hợp nhất định. Tuy nhiên, trên thực tế, không ít người vẫn hiểu chưa đúng về biện pháp này. Có người cho rằng đây là “giam lỏng”, tức là người bị áp dụng không được ra khỏi nhà; cũng có người lại cho rằng đây là biện pháp nhẹ, chỉ cần không bỏ trốn là được.
Cách hiểu như trên đều chưa đầy đủ. Cấm đi khỏi nơi cư trú không phải là hình phạt, cũng không phải là “giam lỏng”. Đây là biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự, nhằm bảo đảm người bị áp dụng có mặt khi cơ quan có thẩm quyền triệu tập, không bỏ trốn, không tiếp tục phạm tội hoặc cản trở hoạt động tố tụng.
Từ ngày 01/7/2026, Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam và cấm đi khỏi nơi cư trú năm 2025 có hiệu lực thi hành. So với Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam năm 2015, Luật năm 2025 có điểm mới rất đáng chú ý là bổ sung đầy đủ hơn cơ chế thi hành biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Nội dung này giúp xác định rõ hơn: ai là người bị cấm đi khỏi nơi cư trú, họ có quyền gì, phải thực hiện nghĩa vụ gì, cơ quan nào quản lý, khi nào được vắng mặt, thay đổi nơi cư trú, làm việc, học tập và nếu vi phạm thì bị xử lý như thế nào.
 

1. Cấm đi khỏi nơi cư trú là biện pháp ngăn chặn, không phải hình phạt

Căn cứ khoản 3 Điều 2 Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam và cấm đi khỏi nơi cư trú năm 2025, người bị cấm đi khỏi nơi cư trú là người đang bị hạn chế quyền đi lại ngoài phạm vi địa bàn xã, phường, đặc khu nơi người đó cư trú hoặc phạm vi địa bàn đơn vị quân đội quản lý trong thời hạn theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Như vậy, người bị áp dụng biện pháp này không bị cách ly khỏi xã hội như người bị tạm giam. Họ vẫn sinh sống tại địa phương, vẫn có thể lao động, học tập, sinh hoạt trong phạm vi luật cho phép. Điểm bị hạn chế chủ yếu là quyền tự do đi khỏi phạm vi nơi cư trú nếu chưa được cơ quan có thẩm quyền cho phép, trừ trường hợp bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Bản chất của biện pháp này là hạn chế quyền đi lại có điều kiện, đặt dưới sự quản lý, theo dõi của cơ quan có thẩm quyền, nhằm phục vụ hoạt động tố tụng hình sự.

2. Luật năm 2025 mở rộng phạm vi điều chỉnh, bổ sung riêng nội dung cấm đi khỏi nơi cư trú

Theo Điều 1 Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam và cấm đi khỏi nơi cư trú năm 2025, Luật quy định về nguyên tắc, trình tự, thủ tục thi hành các biện pháp ngăn chặn gồm tạm giữ, tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú; tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan quản lý, thi hành; quyền, nghĩa vụ của người bị tạm giữ, người bị tạm giam, người bị cấm đi khỏi nơi cư trú.
Đây là điểm mới quan trọng so với Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam năm 2015. Trước đây, pháp luật đã có quy định về biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú trong Bộ luật Tố tụng hình sự, nhưng việc tổ chức thi hành, quản lý, theo dõi người bị áp dụng biện pháp này trên thực tế còn cần cơ sở pháp lý cụ thể hơn. Luật năm 2025 đã bổ sung nội dung này, qua đó giúp việc áp dụng và thi hành biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú được rõ ràng, thống nhất và chặt chẽ hơn.

3. Người bị cấm đi khỏi nơi cư trú gồm những ai?

Theo khoản 3 Điều 2 Luật năm 2025, người bị cấm đi khỏi nơi cư trú bao gồm: bị can, bị cáo, người bị yêu cầu dẫn độ, người đang chờ chấp hành án phạt tù.
Quy định này cho thấy phạm vi người bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú không chỉ giới hạn ở bị can, bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử. Trong một số trường hợp, người bị yêu cầu dẫn độ hoặc người đang chờ chấp hành án phạt tù cũng có thể bị áp dụng biện pháp này theo quy định pháp luật.
Việc xác định rõ đối tượng áp dụng giúp cơ quan có thẩm quyền thống nhất trong quản lý, đồng thời giúp người dân hiểu đúng rằng cấm đi khỏi nơi cư trú là biện pháp tố tụng nhằm bảo đảm sự có mặt của người bị áp dụng, chứ không phải là hình phạt đã được Tòa án tuyên.

4. Người bị cấm đi khỏi nơi cư trú vẫn có quyền nhất định

Một điểm đáng chú ý của Luật năm 2025 là quy định rõ quyền của người bị cấm đi khỏi nơi cư trú tại Điều 41. Theo đó, người bị cấm đi khỏi nơi cư trú có quyền đi khỏi nơi cư trú vì lý do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan. Trường hợp đi khỏi nơi cư trú vì lý do chính đáng khác thì phải được cơ quan có thẩm quyền cho phép.
Người bị cấm đi khỏi nơi cư trú cũng có quyền được thay đổi nơi cư trú, làm việc, lao động hoặc học tập ra ngoài phạm vi nơi cư trú khi được cơ quan có thẩm quyền cho phép. Nếu thay đổi nơi cư trú, làm việc, lao động hoặc học tập trong phạm vi nơi cư trú thì phải báo cáo cơ quan có thẩm quyền. Ngoài ra, họ có quyền khiếu nại, tố cáo hành vi vi phạm pháp luật và được hưởng các quyền khác theo quy định của pháp luật.
Như vậy, pháp luật không tước bỏ hoàn toàn quyền đi lại, học tập, lao động của người bị cấm đi khỏi nơi cư trú. Vấn đề là việc đi khỏi nơi cư trú, thay đổi nơi cư trú, nơi làm việc, học tập phải tuân thủ trình tự, điều kiện và sự cho phép của cơ quan có thẩm quyền.

5. Nghĩa vụ của người bị cấm đi khỏi nơi cư trú được quy định chặt chẽ hơn

Bên cạnh quyền, Điều 41 Luật năm 2025 cũng quy định cụ thể nghĩa vụ của người bị cấm đi khỏi nơi cư trú.
Người bị áp dụng biện pháp này phải trình diện Trưởng Công an cấp xã nơi cư trú hoặc đơn vị quân đội đang quản lý, theo dõi; chấp hành nghiêm cam kết tuân thủ pháp luật; thực hiện đầy đủ nghĩa vụ công dân, nội quy, quy chế của nơi cư trú, nơi làm việc; chịu sự quản lý, theo dõi của cơ quan có thẩm quyền.
Đặc biệt, người bị cấm đi khỏi nơi cư trú không được đi khỏi phạm vi địa bàn xã, phường, đặc khu hoặc phạm vi địa bàn do đơn vị quân đội quản lý theo lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú, trừ trường hợp luật cho phép. Họ cũng phải có mặt theo yêu cầu của Trưởng Công an cấp xã hoặc người đứng đầu đơn vị quân đội đang quản lý, theo dõi; phải làm giấy cam đoan và thực hiện đúng các nghĩa vụ đã cam đoan theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Người bị áp dụng phải chấp hành nghiêm nghĩa vụ pháp lý; nếu vi phạm, có thể bị xử lý hoặc bị thay đổi sang biện pháp ngăn chặn nghiêm khắc hơn.

6. Vai trò của Ủy ban nhân dân cấp xã và Công an cấp xã được làm rõ

Theo Điều 9 Luật năm 2025, Ủy ban nhân dân cấp xã, Công an cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý, theo dõi người bị cấm đi khỏi nơi cư trú là cơ quan, đơn vị được giao một số nhiệm vụ thi hành biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.
Điều 40 của Luật quy định Ủy ban nhân dân cấp xã quản lý, theo dõi người bị cấm đi khỏi nơi cư trú. Công an cấp xã trực tiếp giúp Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện nhiệm vụ này.
Công an cấp xã có nhiệm vụ tiếp nhận, tổ chức quản lý, theo dõi người bị cấm đi khỏi nơi cư trú; yêu cầu người đó thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đã cam kết; lập biên bản khi vi phạm nghĩa vụ; giải quyết việc vắng mặt tại nơi cư trú; giải quyết việc thay đổi nơi cư trú, làm việc, lao động, học tập; thông báo cho cơ quan có thẩm quyền về việc người bị cấm đi khỏi nơi cư trú vi phạm nghĩa vụ; xác minh, điểm danh, kiểm diện khi người bị cấm đi khỏi nơi cư trú đi khỏi nơi cư trú mà không xin phép.
Quy định này có ý nghĩa thực tiễn rất lớn, vì người bị cấm đi khỏi nơi cư trú vẫn sinh sống tại cộng đồng. Do đó, việc quản lý, theo dõi phải gắn với địa bàn cơ sở, nơi Công an cấp xã và chính quyền địa phương có điều kiện nắm chắc nhân thân, nơi ở, quan hệ xã hội và biến động của người bị áp dụng biện pháp ngăn chặn.

7. Không phải mọi trường hợp đi khỏi nơi cư trú đều là vi phạm

Luật năm 2025 quy định rõ cơ chế giải quyết việc vắng mặt tại nơi cư trú. Theo Điều 42, người bị cấm đi khỏi nơi cư trú có nhu cầu lao động, học tập hoặc vì lý do chính đáng khác thì có thể đi khỏi nơi cư trú khi có đơn xin phép và được người ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú đồng ý.
Trong thời hạn 01 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đơn, nếu đồng ý, người ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú phải có văn bản thông báo cho người bị cấm đi khỏi nơi cư trú và thông báo ngay cho Trưởng Công an cấp xã hoặc đơn vị quân đội được giao quản lý, theo dõi. Nếu không đồng ý thì phải có văn bản thông báo và nêu rõ lý do.
Thời gian vắng mặt tại nơi cư trú mỗi lần không quá 30 ngày, trừ trường hợp bị bệnh phải điều trị tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh theo chỉ định của bác sĩ và có xác nhận điều trị của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.
Trường hợp đi khỏi nơi cư trú vì lý do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan thì không phải xin phép trước, nhưng sau khi hết lý do bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan phải trình diện hoặc báo cáo cơ quan có thẩm quyền.
Quy định này cho thấy pháp luật vừa bảo đảm yêu cầu quản lý, vừa tạo điều kiện để người bị cấm đi khỏi nơi cư trú giải quyết các nhu cầu chính đáng về lao động, học tập, khám chữa bệnh, gia đình hoặc các trường hợp cần thiết khác.

8. Có thể được thay đổi nơi cư trú, làm việc, lao động hoặc học tập

Theo Điều 43 Luật năm 2025, người bị cấm đi khỏi nơi cư trú có thể được xem xét thay đổi nơi cư trú, làm việc, lao động hoặc học tập nếu có lý do chính đáng.
Trường hợp thay đổi nơi cư trú ra ngoài phạm vi địa bàn xã, phường, đặc khu nơi đang cư trú thì người bị cấm đi khỏi nơi cư trú phải có đơn xin phép gửi người ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú. Trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận đơn, nếu đồng ý thì người ra lệnh ban hành lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú mới và gửi đến Trưởng Công an cấp xã nơi cư trú mới để quản lý, theo dõi; đồng thời thông báo cho Trưởng Công an cấp xã nơi cư trú cũ.
Trường hợp thay đổi nơi làm việc, lao động hoặc học tập ngoài địa bàn nơi cư trú thì trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ khi nhận đơn, nếu đồng ý, người ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú phải có văn bản đồng ý và thông báo ngay cho Trưởng Công an cấp xã.

9. Vi phạm nghĩa vụ có thể bị đề nghị thay đổi biện pháp ngăn chặn

Điều 44 Luật năm 2025 quy định cụ thể việc xử lý người bị cấm đi khỏi nơi cư trú vi phạm nghĩa vụ.
Tùy từng trường hợp, Trưởng Công an cấp xã hoặc đơn vị quân đội được giao quản lý, theo dõi có thể lập biên bản vi phạm nghĩa vụ, tổ chức nhắc nhở, kiểm điểm, thông báo cho người ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú hoặc đề nghị người có thẩm quyền thay đổi biện pháp ngăn chặn.
Đối với hành vi vi phạm nhiều lần hoặc vi phạm nghiêm trọng, người bị cấm đi khỏi nơi cư trú có thể bị đề nghị thay đổi biện pháp ngăn chặn. Theo quy định được Luật năm 2025 sửa đổi, bổ sung trong Bộ luật Tố tụng hình sự, trường hợp bị can, bị cáo vi phạm nghĩa vụ cam đoan hoặc vi phạm nghĩa vụ theo Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam và cấm đi khỏi nơi cư trú thuộc trường hợp bị đề nghị thay đổi biện pháp ngăn chặn thì có thể bị tạm giam.
Đây là điểm người dân cần đặc biệt lưu ý. Cấm đi khỏi nơi cư trú là biện pháp ít nghiêm khắc hơn tạm giam, nhưng nếu người bị áp dụng không chấp hành đúng nghĩa vụ thì có thể bị thay thế bằng biện pháp nghiêm khắc hơn.

10. Viện kiểm sát kiểm sát việc thi hành biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú

Một điểm quan trọng trong Luật năm 2025 là tiếp tục khẳng định vai trò kiểm sát của Viện kiểm sát.
Theo Điều 5 Luật năm 2025, Viện kiểm sát kiểm sát việc tuân theo pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong quản lý, thi hành tạm giữ, tạm giam và cấm đi khỏi nơi cư trú. Điều 49 của Luật này quy định khi kiểm sát quản lý, thi hành tạm giữ, tạm giam và cấm đi khỏi nơi cư trú, Viện kiểm sát có quyền kiểm sát tại cơ sở giam giữ, cơ quan, đơn vị được giao nhiệm vụ thi hành biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú; hỏi người bị cấm đi khỏi nơi cư trú; kiểm sát hồ sơ; yêu cầu cung cấp hồ sơ, tài liệu; yêu cầu tự kiểm tra; kháng nghị, kiến nghị, yêu cầu chấm dứt vi phạm.
Đặc biệt, Viện kiểm sát có quyền hủy bỏ biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú nếu biện pháp đó không có căn cứ và trái pháp luật. Đây là cơ chế quan trọng để bảo đảm việc áp dụng và thi hành biện pháp ngăn chặn không tùy tiện, không xâm phạm trái pháp luật quyền tự do đi lại, cư trú, lao động, học tập của công dân.

Kết luận

Cấm đi khỏi nơi cư trú không phải là “giam lỏng”, cũng không phải là hình phạt. Đây là biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự, được áp dụng nhằm bảo đảm sự có mặt của người bị áp dụng khi cơ quan có thẩm quyền triệu tập và bảo đảm quá trình giải quyết vụ án hình sự được tiến hành đúng pháp luật.
Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam và cấm đi khỏi nơi cư trú năm 2025 đã quy định cụ thể hơn về khái niệm, quyền, nghĩa vụ của người bị cấm đi khỏi nơi cư trú; trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã, Công an cấp xã; việc vắng mặt, thay đổi nơi cư trú, làm việc, học tập; xử lý vi phạm và vai trò kiểm sát của Viện kiểm sát.
Từ ngày 01/7/2026, việc thi hành biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú có cơ sở pháp lý đầy đủ, rõ ràng hơn. Do đó, người dân cần hiểu đúng để chấp hành nghiêm quy định pháp luật, đồng thời biết bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình khi bị áp dụng biện pháp này./.
 

Tác giả bài viết: Nguyễn Minh Tiến - VKSND KV1

Tổng số điểm của bài viết là: 15 trong 3 đánh giá

Xếp hạng: 5 - 3 phiếu bầu
Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

09a-CK/TSC

Công khai tình hình đầu tư xây dựng, mua sắm, giao, thuê tài sản công năm 2025

lượt xem: 11 | lượt tải:6

127/QĐ-VKS

QĐ về việc công bố, công khai số liệu giao dự toán ngân sách nhà nước năm 2026 của VKSND thành phố Đồng Nai

lượt xem: 12 | lượt tải:6

128/QĐ-VKS

QĐ về việc công bố công khai số liệu giao dự toán ngân sách nhà nước năm 2026 của Văn phòng VKSND thành phố Đồng Nai

lượt xem: 11 | lượt tải:6

198/BC-VKS

Báo cáo công khai số liệu và thuyết minh tình hình thực hiện dự toán ngân sách nhà nước 6 tháng năm 2026 của VKSND thành phố Đồng Nai

lượt xem: 13 | lượt tải:10

199/BC-VKS

Báo cáo công khai số liệu và thuyết minh tình hình thực hiện dự toán ngân sách nhà nước 6 tháng năm 2026 của VP VKSND thành phố Đồng Nai

lượt xem: 17 | lượt tải:7
lgo vkstoi cao
banner kiemsat2vks1
tvpl
công khai tài chính
bvpl
TB Trụ sở
Nghị quyết 205
Công khai tài chính
Chithi06
Thống kê truy cập
  • Đang truy cập16
  • Hôm nay703
  • Tháng hiện tại33,878
  • Tổng lượt truy cập19,967,270
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây