1. Về cơ sở pháp lý và lý luận: Trong nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát qui định tại Điều 36 của Bộ luật tố tụng hình sự qui định như sau: “2. Khi thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng đối với vụ án hình sự,Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây: … i) Kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm các bản án, quyết định của Tòa án;” Điều 232 của Bộ luật tố tụng hình sự qui định: “Viện kiểm sát cùng cấp và Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị những bản án hoặc quyết định sơ thẩm.” Khác với kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm, các căn cứ kháng nghị đã qui định cụ thể còn kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm không qui định căn cứ. Tuy nhiên không vì thế mà cho rằng việc kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm thế nào cũng được. Căn cứ vào Điều 33 Quy chế tạm thời về công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử các vụ án hình sự (ban hành kèm theo quyết định số 121/2004/QĐ-VKSTC ngày 16-9-2004 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao) thì có 4 căn cứ để kháng nghị phúc thẩm, đó là: Việc điều tra, xét hỏi tại phiên toà sơ thẩm phiến diện hoặc không đầy đủ; kết luận của bản án hoặc quyết định hình sự sơ thẩm không phù hợp với các tình tiết khách quan quả vụ án; có những vi phạm trong việc áp dụng Bộ luật hình sự và có những vi phạm về thủ tục tố tụng hình sự trong giai đoạn xét xử sơ thẩm. Tuy nhiên, những căn cứ được nêu trong Điều 33 Quy chế tạm thời về công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử các vụ án hình sự cũng chỉ đáp ứng được một phần những vướng mắc trong công tác kháng nghị phúc thẩm, và theo chúng tôi, quy định trên không chỉ có ý nghĩa “ tạm thời ”, mà nội dung của nó cũng chưa thật đầy đủ. Bởi lẽ, ngoài những vi phạm nêu trong Điều 33 Quy chế tạm thời về công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử các vụ án hình sự, thì còn những vi phạm khác cũng là căn cứ kháng nghị phúc thẩm nhưng chưa được quy định tại Điều 33 Quy chế trên. Ví dụ: quyết định đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử mà có sai lầm nghiêm trọng; quyết định bồi thường thiệt hại không đúng với quy định của Bộ luật dân sự; việc xác định người tham gia tố tụng không đúng với Bộ luật tố tụng hình sự; quyết định kê biên tài sản không đúng. v.v.. Vậy, cơ sở lý luận đặt ra yêu cầu Viện kiểm sát thực hiện quyền năng kháng nghị phúc thẩm là gì. Theo tôi về cơ bản có những cơ sở sau: - Một là, để bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, sự công bằng của pháp luật, bảo vệ lợi ích nhà nước, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân cũng như đảm bảo mục đích xét xử thì chế định kháng nghị phúc thẩm đặt ra là yêu cầu tất yếu. - Hai là, việc xét xử hình sự của Tòa án sẽ đưa đến hậu quả pháp lý bất lợi cho bị cáo. Vì vậy, bản án hoặc quyết định của Tòa án khi xét xử phải đảm bảo tính chính xác, có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Tuy nhiên, không phải trong mọi trường hợp ngay từ đầu phán quyết của Tòa án đã đảm bảo được yêu cầu này. Do đó, pháp luật qui định việc xét xử được thực hiện ở các cấp khác nhau nhằm đảm bảo giải quyết đúng đắn vụ án hình sự. - Ba là, tại phiên tòa hoạt động xét xử của Tòa án dựa trên nguyên tắc “độc lập và chỉ tuân theo pháp luật” và Viện kiểm sát là cơ quan duy nhất có chức năng kiểm sát tuân theo pháp luật trong hoạt động xét xử tại phiên tòa hình sự nên Viện kiểm sát phải có quan điểm về hoạt động này đồng thời thể hiện sự thống nhất hay không thống nhất với đường lối xét xử của Tòa án ngay khi bản án chưa có hiệu lực pháp luật. Quan điểm này không phụ thuộc vào sự chủ quan cá nhân đồng tình hay không đồng tình với phán quyết của Tòa án mà là quan điểm khách quan của cơ quan bảo vệ pháp luật đối với phán quyết quan trọng của Tòa án có căn cứ rõ ràng. - Bốn là, kháng nghị phúc thẩm diễn ra khi bản án sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật nhằm giải quyết, ngăn chặn, khắc phục những sai lầm, thiếu sót có thể gây ra những thiệt hại cho quyền lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức tham gia tố tụng trong vụ án tr ước khi cưỡng chế hình sự của bản n, quyết định diễn ra . 2. Thực tiễn công tác kháng nghị phúc thẩm án hình sự tại Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất năm 2013: Năm 2013 Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất đưa ra xét xử 120 vụ - 225 bị cáo/ t ổng số thụ lý là 135 vụ - 270 bị cáo . Trong đó, Viện KSND huyện Thống Nhất đã quyết định kháng nghị đối với 06 bản án hình sự sơ thẩm bao gồm: Vụ Trần Văn Nhân cùng đồng phạm, can tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 248; Phạm Văn Thăng cùng đồng phạm, can tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 và khoản 2 Điều 138; Nguyễn Văn Sơn cùng đồng phạm, can tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”và “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 140 và khoản 1 Điều 250; Lìu Lỉ Sáng, can tội “Vi phạm qui định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” theo khoản 1 Điều 202; Đinh Văn Huy, can tội “Vi phạm qui định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” theo khoản 1 Điều 202 của Bộ luật hình sự . Nội dung kháng nghị của Viện kiểm sát đối với các bản án sơ thẩm trên là về vấn đề áp dụng pháp luật, quyết định hình phạt, trách nhiệm dân sự và án phí. Cấp phúc thẩm đã đưa ra xét xử 06/06 vụ. Tại phiên Tòa phúc thẩm, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai đã bảo vệ 06/06 quyết định kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất. Kết quả: Tòa án cấp phúc thẩm (sau đây gọi tắt là cấp phúc thẩm) đã chấp nhận 05/06 kháng nghị phúc thẩm của Viện kiểm sát nhân dân huyện (tỷ lệ 83,3%), không chấp nhận 01 quyết định kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện (tỷ lệ là 16,7%). Về cơ bản Viện kiểm sát nhân dân huyện đồng ý với các bản án hình sự phúc thẩm đã tuyên. Trong đó, những vi phạm như: áp dụng pháp luật, đánh giá không đúng tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi dẫn đến quyết định hình phạt chưa đúng, chưa tương xứng, quyết định trách nhiệm dân sự và án phí của cấp sơ thẩm trái qui định của pháp luật cơ bản đã được cấp phúc thẩm xem xét và sửa một phần bản án sơ thẩm theo đề nghị của Viện kiểm sát. Những vi phạm của cấp sơ thẩm được kháng nghị nêu ra bao gồm: - Vụ Trần Văn Nhân cùng đồng phạm, can tội “Đánh bạc”: Bị cáo Trần Văn Nhân là người cầm cái trong sòng bạc, đã có 01 tiền án về tội “Đánh bạc” còn bị cáo Trần Văn Quý chỉ là con bạc tham gia, chưa có tiền án nhưng Tòa án sơ thẩm đã đánh giá không đúng tính chất, mức độ phạm tội của Trần Văn Quý nên đã tuyên xử bị cáo Trần Văn Nhân 01 năm tù giam và tuyên xử bị cáo Trần Văn Quý 01 năm 06 tháng tù giam. Trên cơ sở kháng nghị của Viện kiểm sát, cấp phúc thẩm đã sửa bản án sơ thẩm tuyên phạt Trần Văn Quý 01 năm tù giam; - Trong vụ Phạm Văn Thăng cùng đồng phạm “Trộm cắp tài sản” thì cùng lúc bị cáo Phạm Văn Thăng được áp dụng cả hai tình tiết vừa là tình tiết tăng nặng định khung theo điểm c khoản 2 Điều 138 của BLHS vừa là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự qui định tại điểm g khoản 1 Điều 48 của Bộ luật hình sự là “Tái phạm nguy hiểm”, nhưng lại được xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự với tình tiết “Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” qui định tại điểm h khoản 1 Điều 46 của Bộ luật hình sự. Việc áp dụng pháp luật như trên vừa có mâu thuẫn, vừa vi phạm nguyên tắc tình tiết đã là yếu tố định khung hình phạt thì không được coi là tình tiết tăng nặng (qui định tại khoản 2 Điều 48 của Bộ luật hình sự); Đối với bị cáo Nguyễn Văn Lực chỉ bị xét xử về một hành vi phạm tội trộm cắp tài sản, bị cáo bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang trên đường tẩu thoát, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nhưng cấp sơ thẩm lại xét xử Nguyễn Văn Lực theo điểm c khoản 2 Điều 138 của Bộ luật hình sự và áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự qui định tại điểm g khoản 1 Điều 48 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn Lực là trái pháp luật. Ngoài ra Tòa án còn nhận định “hậu quả xảy ra đã được khắc phục nên xem xét giảm nhẹ cho bị cáo” là chưa phù hợp, vì lẽ các bị cáo bị bắt giữ cùng tang vật trên đường tẩu thoát, Cơ quan điều tra thu hồi tài sản trả lại cho người bị hại chứ không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của các bị cáo. Mặt khác, trong nhận định về tính chất, vai trò của đồng phạm, cấp sơ thẩm chưa đánh giá đúng vai trò thực hành tích cực của bị cáo Nguyễn Văn Lực ở chỗ Lực tuy phạm đội lần đầu nhưng đã trực tiếp trèo cửa sổ, đột nhập vào nhà trộm cắp xe môtô, sau đó trên đường tẩu thoát còn tiếp tục cùng Phạm Văn Thăng trộm cắp tài sản là một xe môtô khác trên địa bàn huyện Long Thành (đã có quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can thể hiện trong hồ sơ vụ án) nhưng Tòa án quyết định áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự và khoản 3 Điều 227 của Bộ luật tố tụng hình sự x ử phạt bị cáo Nguyễn Văn Lực 04 tháng 01 ngày tù (bằng thời hạn tạm giam), trả tự do cho bị cáo Nguyễn Văn Lực ngay tại phiên tòa là chưa tương xứng với tính chất, vai trò của bị cáo, chưa đủ sức răn đe, giáo dục đối với bị cáo và gây khó khăn cho quá trình điều tra, truy tố, xét xử của các cơ quan tiến hành tố tụng huyện Long Thành. Tuy nhiên, cấp phúc thẩm chỉ chấp nhận một phần kháng nghị, sửa phần áp dụng pháp luật nhưng không tăng mức hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Văn Lực như Viện kiểm sát huyện nêu trong kháng nghị; - Vụ Nguyễn Văn Sơn cùng đồng phạm, can tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” và “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”: Trong vụ án này, thời điểm phạm tội của các bị cáo là ngày 10/10/2012 nhưng cấp sơ thẩm đã không nhận định bị cáo Nguyễn Văn Sơn (SN 31/12/1994) là người chưa thành niên và mặc dù có nhận định bị cáo Lê Thanh Tâm (SN: 04/02/1995) là người chưa thành niên tại thời điểm phạm tội nhưng đều không áp dụng Điều 69, Điều 74 BLHS để xét xử đối với các bị cáo; không có tình tiết giảm nhẹ nào được nhận định trong bản án nhưng vẫn áp dụng khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Lê Thanh Tâm. Đồng thời mức hình phạt đã tuyên đối với bị cáo Lê Thanh Tâm là 1 năm 8 tháng cải tạo không giam giữ là vượt quá ½ so với thời hạn 03 năm cải tạo không giam giữ mà điều luật qui định trong khung hình phạt, vi phạm Điều 73 Bộ luật hình sự: “Khi áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với người chưa thành niên phạm tội, thì không khấu trừ thu nhập của người đó. Thời hạn cải tạo không giam giữ đối với người chưa thành niên phạm tội không quá một phần hai thời hạn mà điều luật quy định”. Cấp phúc thẩm sửa phần áp dụng pháp luật của bản án sơ thẩm như trên nhưng không thay đổi loại hình phạt như đề nghị của Viện kiểm sát huyện; - Vụ Lìu Lỉ Sáng, can tội “Vi phạm qui định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”: Cấp sơ thẩm đã tuyên xử bị cáo Lìu Lỉ Sáng (là người làm nghề lái xe tải thuê gây tai nạn) phải cấp dưỡng cho con chưa thành niên của người bị hại đến năm 18 tuổi mỗi tháng là 525.000 đồng và không tuyên trách nhiệm chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ (chủ xe) phải bồi thường chi phí sửa chữa xe môtô của người bị hại. Cấp phúc thẩm đã chấp nhận toàn bộ kháng nghị, áp dụng điểm c khoản 1 Điều 610, khoản 2 Điều 623 của Bộ luật dân sự đã được hướng dẫn tại điểm đ mục 2 Phần III Nghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08/7/2006 tuyên buộc chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ là ông Ngô Ánh phải cấp dưỡng cho con chưa thành niên của người bị hại và trách nhiệm bồi thường chi phí sửa chữa xe môtô của người bị hại; - Vụ án Đinh Văn Huy “Vi phạm qui định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”: Cấp sơ thẩm quyết định xử phạt Đinh Văn Huy 01 năm 06 tháng cải tạo không giam giữ nhưng khi tuyên trả tự do cho bị cáo Đinh Văn Huy ngay tại phiên tòa đã không áp dụng khoản 3 Điều 227 của Bộ luật tố tụng hình sự và quyết định loại hình phạt nhẹ hơn đề nghị của Viện kiểm sát chưa tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội đã gây ra. Cấp phúc thẩm đã chấp nhận sửa bản án sơ thẩm và xử phạt Đinh Văn Huy bằng hình phạt tù có thời hạn. Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất ban hành k háng nghị số 04/QĐ-KNPT ngày 28/8/2013 đề nghị cấp phúc thẩm sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 65/2013/HSST ngày 19/8/2013 của Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất đối với vụ án Chề A Cắm cùng đồng phạm, can tội “Cướp giật tài sản” theo khoản 2 Điều 136 của Bộ luật hình sự về áp dụng pháp luật. Nội dung vụ án như sau: Vào khoảng 09 giờ ngày 07/05/2013, Giềng Lồng Sáng và Chề A Cắm rủ nhau mượn xe môtô 60B8-319.24 của anh Trần Sênh Diệt để đi cướp giật tài sản. Sáng nói dối với anh Diệt cho Sáng và Cắm mượn đi lấy tiền làm thuê về trả nợ cho anh Hùng. Tin tưởng lời nói của Cắm, anh Diệt đồng ý cho Sáng và Cắm mượn xe môtô 60B8-319.24. Sáng chở Cắm ngồi sau đi về khu vực xã Bàu Hàm 2, huyện Thống Nhất để cướp giật tài sản. Khoảng 10 giờ 30 phút cùng ngày, khi đến ấp Phan Bội Châu, xã Bàu Hàm 2, Cắm nhìn thấy chị Bùi Thị Mỹ Tiên đang bán trái cây bên đường, quan sát thấy chị Tiên có đeo 01 sợi dây chuyền bằng vàng nên Cắm bàn với Sáng giật sợi dây chuyền của chị Tiên. Sáng dừng xe mô tô cách quầy hàng của chị Tiên khoảng 02m và cho xe nổ máy sẵn đứng đợi. Còn Cắm vào quầy hàng của chị Tiên, giả vờ vào hỏi mua trái cây. Trong lúc chị Tiên đang lấy giấy báo gói trái cây cho Cắm, Cắm giật dây chuyền vàng của chị Tiên rồi bỏ chạy ra xe môtô và cùng Sáng tẩu thoát. Việc cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo theo điểm a khoản 2 Điều 136 của Bộ luật hình sự là không phù hợp với nhận định của Viện kiểm sát huyện vì xét thấy hành vi của Chề A Cắm và Giềng Lồng Sáng không thuộc trường hợp “dùng phương tiện nguy hiểm” mà chỉ phạm vào khoản 1 Điều 136 của Bộ luật hình sự. Điều này trái với hướng dẫn của Thông tư liên tịch số 02/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BTP ngày 25/12/2001 của Toà án nhân dân tối cao-Viện kiểm sát nhân dân tối cao-Bộ Công an-Bộ Tư pháp. Mặc dù quan điểm của Viện kiểm sát huyện được Viện kiểm sát tỉnh bảo vệ nhưng Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai vẫn không chấp nhận mà giữ nguyên bản án sơ thẩm. Đây là vấn đề vướng mắc trong áp dụng pháp luật đề nghị Viện kiểm sát tỉnh báo cáo cấp trên để giải đáp và hướng dẫn cụ thể hơn. 3. Khó khăn, vướng mắc: - Theo tôi nhận thức căn cứ kháng nghị phúc thẩm là: Về nội dung, bản án hoặc quyết định sơ thẩm có sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật; Về hình thức, có sự vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng trong khi xét xử sơ thẩm vụ án hình sự. Tuy nhiên những căn cứ này chưa được luật hóa nên việc nhận thức, áp dụng ở các cấp, các ngành khác nhau còn nhiều mâu thuẫn. Do đó thực tiễn xét xử mỗi nơi thực hiện khác nhau và vi phạm nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa. - Việc bổ sung, thay đổi rút kháng cáo, kháng nghị của Viện kiểm sát được qui định tại Điều 238 Bộ luật tố tụng hình sự. Tuy nhiên đối với việc rút kháng nghị của Viện kiểm sát cấp trên đối với kháng nghị của Viện kiểm sát cấp dưới rõ ràng là không có căn cứ dẫn đến Toà án cấp sơ thẩm không thể thông qua phiên tòa phúc thẩm để khắc phục sai lầm mà phải thực hiện theo thủ tục giám đốc thẩm. Cách giải quyết này vừa kéo dài vụ án vừa không bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của những người tham gia tố tụng. 4. Giải pháp nâng cao chất lượng kháng nghị phúc thẩm án hình sự: - Để công tác kháng nghị phúc thẩm hình sự đạt được hiệu quả và hạn chế án hình sự bị hủy, sửa, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất quán triệt nhận thức đầy đủ vai trò, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân trong đó kiểm sát bản án hình sự là một khâu công tác quan trọng. Bên cạnh sự theo dõi, chỉ đạo sát sao của lãnh đạo thì cán bộ, kiểm sát viên phải nỗ lực, nêu cao tinh thần trách nhiệm, đạo đức nghề nghiệp, kỹ năng kiểm sát, tiếp thu những kinh nghiệm tốt và khắc phục những tồn tại đã được chỉ ra trong quá trình thực hiện nhiệm vụ. Quá trình kiểm sát, kiểm sát viên phải chú trọng theo dõi chặt chẽ vụ án từ giai đoạn khởi tố điều tra đến truy tố xét xử và quan trọng nhất là diễn biến tại phiên tòa, có trách nhiệm chủ động tham gia thẩm vấn đề làm sáng tỏ những chứng cứ buộc tội, gỡ tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ được đưa ra xem xét tại phiên tòa. -Việc kiểm sát bản án phải được thực hiện nghiêm túc, kịp thời, không qua loa mà phải được đối chiếu với quan điểm truy tố đã được trình bày trong quá trình thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử. Lãnh đạo, kiểm sát viên có quan điểm rõ ràng ghi trong phiếu kiểm sát bản án. Nếu nhận định, quyết định của Tòa án có sự khác biệt với của Viện kiểm sát thì phải thận trọng xem xét vấn đề khác biệt này có đầy đủ cơ sở lý luận và căn cứ pháp lý không. Về thời hạn giao bản án của Tòa án thì kiểm sát viên phải có trách nhiệm chủ động nhắc nhở và biện pháp đốc thúc để đảm bảo thời hạn kháng nghị. Mặt khác, Ban lãnh đạo Viện cũng tranh thủ tham khảo ý kiến của Phòng 3 trước khi quyết định kháng nghị phúc thẩm. - Thường xuyên nghiên cứu các báo cáo rút kinh nghiệm cũng như tổ chức nghiêm túc, có chất lượng các phiên tòa hình sự rút kinh nghiệm theo tinh thần cải cách tư pháp để nâng cao chất lượng thực hành quyền công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, công tác./. Đào Thị Quỳnh Giang VKSND huyện Thống Nhất
Ý kiến bạn đọc