Để kháng nghị phúc thẩm của Viện trưởng Viện kiểm sát bảo đảm có căn cứ, đúng pháp luật, thì việc tìm hiểu các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự cũng như các văn bản hướng dẫn về kháng nghị phúc thẩm, đồng thời đối chiếu với thực tiễn việc kháng nghị phúc thẩm các bản án, quyết định của Toà án cấp sơ thẩm đối với vụ án hình sự là một vấn đề rất quan trọng không chỉ đối với Viện kiểm sát mà còn đối với cả Thẩm phán nhất là Thẩm phán được phân công xét xử phúc thẩm các vụ án hình sự có kháng nghị phúc thẩm của Viện kiểm sát. Khác với kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm, nhà làm luật quy định các căn cứ kháng nghị, còn kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm nhà làm luật không quy định căn cứ, nhưng không vì thế mà cho rằng việc kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm thế nào cũng được. Căn cứ vào Điều 33 Quy chế về công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử các vụ án hình sự (ban hành kèm theo Quyết định số 960/2007/QĐ-VKSTC ngày 17/9/2007 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao) thì có 4 căn cứ để kháng nghị phúc thẩm, đó là: Việc điều tra, xét hỏi tại phiên toà sơ thẩm phiến diện hoặc không đầy đủ; kết luận của bản án hoặc quyết định hình sự sơ thẩm không phù hợp với các tình tiết khách quan quả vụ án; có những vi phạm trong việc áp dụng Bộ luật hình sự và có những vi phạm về thủ tục tố tụng hình sự trong giai đoạn xét xử sơ thẩm. Nếu người tham gia tố tụng thực hiện quyền kháng cáo của mình theo đánh giá chủ quan của họ, tức là dù bản án sơ thẩm đã đúng pháp luật nhưng người tham gia tố tụng (bị cáo, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và đại diện của những người này) không đồng ý với bản án sơ thẩm thì họ đều có thể kháng cáo yêu cầu Toà án cấp phúc thẩm xét xử lại. Nhưng kháng nghị của Viện kiểm sát đối với bản án sơ thẩm để yêu cầu Toà án cấp phúc thẩm xét xử lại vụ án thì không thể tuỳ thuộc vào ý muốn chủ quan của mình (không đồng tình với quyết định của Toà án cấp sơ thẩm) mà thể hiện sự không đồng tình đó phải có căn cứ pháp luật. Bộ luật tố tụng hình sự không có điều luật riêng quy định về căn cứ kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, nhưng căn cứ vào yêu cầu của việc xét xử sơ thẩm và tính đúng đắn của bản án, quyết định sơ thẩm thì có thể xác định được căn cứ kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm bao gồm: - Về thẩm quyền: Căn cứ Điều 232 BLTTHS thì Viện kiểm sát cùng cấp và Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị những bản án hoặc quyết định sơ thẩm. - VKSND tối cao đã ban hành mẫu số 138 ban hành kèm theo Quyết định số 960/2007/QĐ-VKSTC ngày 17/9/2007, khi viết kháng nghị phúc thẩm cần đáp ứng các yêu cầu sau: Về hình thức kháng nghị: Hình thức kháng nghị phải thực hiện đúng mẫu quy định. Căn cứ điều luật để ban hành kháng nghị phúc thẩm là Điều 36 và Điều 232 BLTTHS. Về nội dung kháng nghị: Điều 33 của Quy chế THQCT&KSXXHS xác định bản án hoặc quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm khi có một trong những căn cứ sau đây: Việc điều tra, xét hỏi tại phiên toà sơ thẩm phiến diện hoặc không đầy đủ; kết luận của bản án hoặc quyết định hình sự sơ thẩm không phù hợp với các tình tiết khách quan của vụ án; có vi phạm trong việc áp dụng BLHS. Đây là những trường hợp mà Hội đồng xét xử đã áp dụng các quy định của BLHS không đúng; thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm không đúng luật định hoặc có vi phạm nghiêm trọng khác về thủ tục tố tụng. Khi viết kháng nghị phải phân tích thật cụ thể vi phạm của bản án sơ thẩm. Vi phạm về thủ tục tố tụng hay vi phạm trong việc áp dụng các quy định của BLHS và viện dẫn căn cứ pháp luật cụ thể (điều luật hoặc của văn bản hướng dẫn áp dụng). Đối với vụ án có nhiều bị cáo bị kháng nghị thì phải phân tích vai trò tham gia thực hiện tội phạm và những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân của từng bị cáo, đánh giá một cách toàn diện các căn cứ, cơ sở quyết định hình phạt để đề xuất việc xử lý đối với từng trường hợp cụ thể. Đối với vụ án có đồng phạm nhưng chỉ kháng nghị đối với một hoặc một số bị cáo cần có sự phân tích vị trí, vai trò cũng như những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo bị kháng nghị so với bị cáo không bị kháng nghị để kháng nghị có căn cứ và có sức thuyết phục. Trên cơ sở phân tích, lập luận những vi phạm của bản án sơ thẩm phần quyết định của kháng nghị phải cụ thể. Kháng nghị toàn bộ hay một phần bản án? Nếu kháng nghị một phần cần nêu rõ kháng nghị phần nào về áp dụng điểm, khoản, điều luật; về hình phạt hay bồi thường… Kháng nghị yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xét xử theo hướng nào? tăng hoặc giảm hình phạt đối với bị cáo (hoặc các bị cáo); chuyển từ việc cho bị cáo được hưởng án treo sang không cho hưởng án treo hoặc ngược lại, tăng hoặc giảm mức bồi thường… Về thời hạn kháng nghị: Quyết định kháng nghị phải được làm trong thời hạn mà pháp luật quy định. Đối với bản án là 15 ngày ở Viện kiểm sát cùng cấp và 30 ngày là ở Viện kiểm sát trên một cấp. Nhằm góp phần vào việc nâng cao chất lượng công tác kháng nghị phúc thẩm hình sự, nâng cao chất lượng xét xử phúc thẩm đối với những vụ án mà bản án của Toà án cấp sơ thẩm bị kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, đồng thời giúp cho việc nhận thức và áp dụng pháp luật hình sự trong thực tiễn được đúng đắn và thống nhất chung, chúng tôi xin trao đổi quan điểm trong việc xác định khung hình phạt thông qua một vụ án tại địa phương, cụ thể như sau: Nội dung vụ án : Chề A Cắm và Giềng Lồng Sáng (cùng sinh năm 1990) là hàng xóm và là bạn bè chơi với nhau, đều chưa có tiền án tiền sự. Vào khoảng 09 giờ 00 ngày 07/05/2013, Sáng và Cắm đang ngồi chơi tại nhà của Chề A Cắm ở tại ấp Thuận Hòa, xã Sông Thao, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai thì có anh Trần Sênh Diệt, ngụ tại xã Bàu Hàm, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai chạy xe môtô biển kiểm soát 60B8-319.24 chở anh Vày A Hùng, ngụ tại xã Thanh Bình, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai đến nhà Cắm tìm Sáng để lấy tiền nợ. Cắm đã rủ Sáng mượn xe môtô của anh Diệt để đi cướp giật tài sản lấy tiền tiêu sài và được Sáng đồng ý. Thực hiện ý định, Sáng nói dối với anh Diệt và anh Hùng là cho Sáng và Cắm mượn xe môtô 60B8-319.24 đi lấy tiền làm thuê về trả nợ cho anh Hùng; tin tưởng lời nói của Cắm, anh Diệt cho Cắm mượn xe mô tô 60B8-319.24. Sau khi mượn được xe, Sáng chạy xe chở Cắm ngồi sau đi về khu vực xã Bàu Hàm 2, huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai để cướp giật tài sản. Khoảng 10 giờ 30 phút cùng ngày, khi đi đến ấp Phan Bội Châu, xã Bàu Hàm 2, huyện Thống Nhất, Cắm quan sát nhìn thấy chị Bùi Thị Mỹ Tiên (Sinh năm 1990, trú tại ấp Phan Bội Châu, xã Bàu Hàm 2, huyện Thống Nhất) đang bán trái cây trên lề đường bên phải, trên cổ chị Tiên có đeo 01 dây chuyền bằng vàng có trọng lượng 1,2 chỉ, loại vàng 18K, có trị giá theo định giá là 3.500.000 đồng (Ba triệu năm trăm ngàn đồng), nên Cắm bàn với Sáng cướp giật sợi dây chuyền trên của chị Tiên. Sáng dừng xe mô tô cách quầy hàng của chị Tiên khoảng 02m và cho xe nổ máy sẵn đứng đợi. Còn Cắm đi bộ vào quầy hàng của chị Tiên, giả vờ vào hỏi mua trái cây, rồi Cắm yêu cầu chị Tiên lấy giấy báo gói trái cây lại cho khỏi bị dập. Lợi dụng lúc chị Tiên đang lấy giấy báo gói trái cây cho Cắm, Cắm đi đến bên trái chị Tiên, đưa tay trái giật mạnh làm đứt sợi dây chuyền vàng trên cổ chị Tiên, sau khi cướp giật được tài sản, Cắm cầm dây chuyền bỏ chạy ra nhảy lên xe mô tô Sáng đang đứng đợi sẵn và cùng Sáng bỏ chạy tẩu thoát. Sau đó, Sáng tiếp tục điều khiển xe mô tô bỏ chạy chở Cắm đến chợ Đông Hoà thuộc xã Đông Hòa, huyện Trảng Bom để tiêu thụ tài sản vừa cướp giật được. Tại đây, Sáng dừng xe trước cổng chợ đứng chờ, Cắm đem sợi dây chuyền vừa cướp được vào hiệu vàng Ánh Như bán được số tiền 1.600.000 đồng (Một triệu sáu trăm ngàn đồng), Cắm chia cho Sáng 400.000đ, số còn lại Cắm đã tiêu xài cá nhân hết. Ngày 07/5/2013, chị Bùi Thị Mỹ Tiên đã làm đơn trình báo vụ cướp giật tài sản đến Công an xã Bàu Hàm 2, sau đó vụ việc được chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thống Nhất thụ lý điều tra theo thẩm quyền. Qua điều tra, đến ngày 08/5/2013, Cơ quan CSĐT Công an huyện Thống Nhất tiến hành bắt khẩn cấp Chề A Cắm và Giềng Lồng Sáng về hành vi cướp giật tài sản nêu trên. Sau đó, Cắm và Sáng bị khởi tố, tạm giam về tội “Cướp giật tài sản” theo Điều 136 của Bộ luật hình sự. Quá trình điều tra, các bị can Chề A Cắm và Giềng Lồng Sáng đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Ngày 09/7/2013, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất ban hành Cáo trạng số 63/CT.VKS-HS truy tố các bị can Chề A Cắm và Giềng Lồng Sáng về tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại Khoản 1 Điều 136 của Bộ luật hình sự và chuyển hồ sơ đến Tòa án nhân dân huyện để xét xử. Ngày 19/8/2013 Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất đưa vụ án ra xét xử, tại Bản án số 65/2013/HSST tuyên xử: “Tuyên bố các bị cáo Chề A Cắm và Giềng Lồng Sáng phạm tội “Cướp giật tài sản”. Áp dụng điểm d, khoản 2 Điều 136; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 và Điều 53 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Chề A Cắm 03 năm 06 tháng tù. Xử phạt bị cáo Giềng Lồng Sáng 03 năm tù. Thời hạn t của cc bị co tính từ ngày 08/5/2013...” Th ời hạn tù của các bị cáo tính từ ngày 08/5/2013...” Do k hông thống nhất với quan điểm xét xử của Tòa án sơ thẩm, ngày 28/8/2013 Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất ban hành Kháng nghị phúc thẩm số 04/QĐ.KNPT-HS kháng nghị việc áp dụng pháp luật đối với các bị cáo Chề A Cắm và Giềng Lồng Sáng tại Bản án hình sự sơ thẩm số 65/2013/HSST ngày 19/8/2013 của Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất, đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử theo thủ tục phúc thẩm theo hướng sửa bản án để xét xử đối với các bị cáo Chề A Cắm và Giềng Lồng Sáng về tội “Cướp giật tài sản” theo khoản 1 Điều 136 của Bộ luật hình sự. Tại Bản án hình sự phúc thẩm số 350/2013/HSPT ngày 26/11/2013 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai tuyên xử: “Không chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất về việc sửa bản án số 65/2013/HSST ngày 19/8/2013 của Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất. Y án sơ thẩm. Áp dụng điểm d, khoản 2 Điều 136; điểm p khoản 1 v khoản 2 Điều 46; Điều 53 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Chề A Cắm 03 (ba) năm 06 (su) tháng tù. Xử phạt bị cáo Giềng Lồng Sáng 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù của các bị cáo tính từ ngày 08/05/2013...” Trên cơ sở nhận thức về mặt pháp luật, cụ thể là các quy định của pháp luật có liên quan, và từ thực tiễn công tác, chúng tôi có một số ý kiến trao đổi về vụ án nêu trên như sau: Đối chiếu với nội dung vụ án thấy rằng, vào khoảng 10 giờ 30 phút ngày 07/5/2013, tại ấp Phan Bội Châu, xã Bàu Hàm 2, huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai, Chề A Cắm đã có hành vi rủ và cùng với Giềng Lồng Sáng cướp giật của chị Bùi Thị Mỹ Tiên 01 sợi dây chuyền vàng, trọng lượng 1,2 chỉ, loại vàng 18K có trị giá tài sản theo định giá là 3.500.000 đồng (Ba triệu năm trăm ngàn đồng). Đây là lần đầu tiên Cắm và Sáng phạm tội. Như vậy, hành vi của Chề A Cắm và Giềng Lồng Sáng đã thỏa mãn khoản 1 Điều 136 của Bộ luật hình sự - T ộ i c ướ p gi ậ t tà i s ả n . Điều 136 của Bộ luật hình sự quy định: “ 1. Ng ườ i nào c ướ p gi ậ t tà i s ả n c ủ a ng ườ i kh ác , thì b ị ph ạ t tù t ừ m ộ t n ă m đ ế n n ă m n ă m . 2. Ph ạ m t ộ i thu ộ c m ộ t trong các tr ườ ng h ợ p sau đây , thì b ị ph ạ t tù t ừ ba n ă m đ ế n m ườ i n ă m : a ) C ó t ổ ch ứ c ; b ) C ó tính ch ấ t chuy ên nghi ệ p; c ) T ái ph ạ m nguy hi ể m ; d ) D ùn g th ủ đ o ạ n nguy hi ể m ; đ ) H àn h hung đ ể t ẩ u th óa t ; e ) G â y th ươ ng tích ho ặ c g â y t ổ n h ạ i cho s ứ c kh ỏ e c ủ a ng ườ i kh á c m à t ỷ l ệ th ươ ng t ậ t t ừ 11% đ ế n 30% ; g ) Chi ế m đ o ạ t t ài s ả n c ó g ía tr ị t ừ n ă m m ươ i tri ệ u đ ồ ng đ ế n d ướ i hai tr ă m t ri ệ u đ ồ ng ; h ) G â y h ậ u qu ả ngh iê m tr ọ ng … ” Trong vụ án này, theo chúng tôi, việc Tòa án hai cấp sơ thẩm và phúc thẩm xét xử các bị cáo Chề A Cắm và Giềng Lồng Sáng về tội “Cướp giật tài sản” với tình tiết định khung hình phạt là “dùng thủ đoạn nguy hiểm” theo quy định tại điểm d, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật hình sự là chưa đúng quy định của pháp luật, bởi lẽ: Trong vụ án này, mặc dù ban đầu các bị cáo Chề A Cám và Giềng Lồng Sáng đã có hành vi bàn bạc và nhau sử dụng xe mô tô biển số 60B8-319.24 – là nguồn nguy hiểm cao độ- để đi cướp giật tài sản của người bị hại và sau khi cướp giật được tài sản đã dùng xe mô tô để làm phương tiện tẩu thoát. Nhưng khi thực hiện hành vi cướp giật tài sản của chị Bùi Thị Mỹ Tiên thì 02 bị cáo Cắm và Sáng lại không dùng xe mô tô trên để thực hiện hành vi cướp giật tài sản của chị Tiên, cụ thể: bị cáo Sáng đã dừng xe mô tô cách quầy hàng của chị Tiên khoảng 02m và cho xe nổ máy sẵn đứng đợi, còn bị cáo Cắm đi bộ vào quầy hàng của chị Tiên, giả vờ hỏi mua trái cây, rồi Cắm yêu cầu chị Tiên lấy giấy báo gói trái cây lại cho khỏi bị dập. Lợi dụng lúc chị Tiên đang lấy giấy báo gói trái cây cho Cắm, Cắm đã đi đến bên trái chị Tiên, dùng tay trái giật mạnh làm đứt sợi dây chuyền vàng trên cổ chị Tiên. Sau khi cướp giật được tài sản, Cắm bỏ chạy ra xe mô tô Sáng đang đứng đợi và cùng Sáng điều khiển xe mô tô đi tiêu thụ tài sản vừa cướp giật được. Như vậy, thực tế các bị cáo Chề A Cắm và Giềng Lồng Sáng không sử dụng xe mô tô khi thực hiện hành vi phạm tội cướp giật tài sản, các bị cáo chỉ sử dụng xe mô tô làm phương tiện đi đến địa điểm ây án và khi tẩu thoát, trong quá trình tẩu thoát các bị cáo không hề bị truy đuổi hoặc bị ngăn chặn, không gây nguy hiểm đến tính mạng, sức khoẻ của người bị hại Bùi Thị Mỹ Tiên hoặc của người khác. Việc Tòa án hai cấp sơ thẩm và phúc thẩm nhận định “trước khi thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo Cắm và Sáng đã bàn bạc và thống nhất nhau việc dừng xe đi bộ vào mua trái cây và sử dụng xe mô tô là nguồn nguy hiểm cao độ để cướp giật tài sản, việc dừng xe và đi bộ vào giả bộ mua trái cây chẳng qua là thủ đoạn tiếp cận tài sản và bất ngờ giật tài sản của chị Bùi Thị Mỹ Tiên (người bị hại) và liền ngay sau đó sử dụng xe mô tô để tẩu thoát. Các bị cáo cũng đã sử dụng phương tiện này để tẩu thoát, bất chấp an toàn tính mạng sức khỏe của người khác cũng là thủ đoạn nguy hiểm nếu bị truy đuổi hoặc ngăn chặn” và áp dụng hành vi sử dụng xe mô tô để cướp giật tài sản của các bị cáo thuộc trường hợp “dùng thủ đoạn nguy hiểm” là tình tiết định khung hình phạt, căn cứ Điều 196 Bộ luật Tố tụng hình sự, kết luận các bị cáo Chề A Cắm và Giềng Lồng Sáng phạm tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 136 của Bộ luật hình sự là chưa chính xác, mang tính nhận định suy diễn chủ quan, áp dụng chưa đúng quy định tại Tiểu Mục 5.3 Mục 5 Phần I của Thông tư liên tịch số 02/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BTP ngày 25/12/2001 của Toà án nhân dân Tối cao -Viện kiểm sát nhân dân Tối cao - Bộ Công an - Bộ Tư pháp hướng dẫn áp dụng một số quy định tại chương XIV của Bộ luật Hình sự, gây ảnh hưởng bất lợi cho các bị cáo. Tiểu Mục 5.3 Mục 5 Phần I của Thông tư liên tịch số 02/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BTP ngày 25/12/2001 quy định: “ “Dùng thủ đoạn nguy hiểm” quy định tại điểm d khoản 2 Điều 136 BLHS là dùng thủ đoạn để cướp giật tài sản mà nguy hiểm đến tính mạng, sức khoẻ của người bị hại hoặc của người khác như dùng xe mô tô, xe máy để thực hiện việc cướp giật tài sản; cướp giật của người đang đi xe mô tô, xe máy...” Theo như phân tích ở trên, chúng tôi đồng tình với quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất, trong vụ án này các bị can Chề A Cắm và Giềng Lồng Sáng chỉ phạm tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 136 của Bộ luật hình sự. Trên đây là ý kiến trao đổi quan điểm việc xác định khung hình phạt thông qua một vụ án cụ thể tại địa phương, kính mong quý vị và các đồng chí đồng nghiệp quan tâm trao đổi để việc nhận thức và áp dụng pháp luật hình sự trong thực tiễn được đúng đắn và thống nhất chung./. Lê Nguyễn Thắng VKSND huyện Thống Nhất
Ý kiến bạn đọc