Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành tổ chức phiên tòa dân sự rút kinh nghiệm năm 2023

Thứ sáu - 21/04/2023 03:53 6 0

Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành tổ chức phiên tòa dân sự rút kinh nghiệm năm 2023

Hiện nay, mâu thuẫn, tranh chấp giữa những người thân thích ruột thịt trong cùng gia đình đang ngày càng tăng lên cả về số lượng và tính chất phức tạp. Nhận thấy thực trạng đó, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành đã chọn 01 vụ án điển hình để phối hợp với Tòa án nhân dân huyện Long

- Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị A, sinh năm 1939

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Luật sư Trần Văn B.

- Bị đơn: Ông Phạm Hồng C, sinh năm 1971

Bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1976

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Luật sư Nguyễn Thành Đ.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: 13 người

Nội dung vụ án:

Về quan hệ nhân thân: Ông Y là con trai ruột cụ bà Nguyễn Thị Ba (chết năm 1989). Năm 1957 ông Y và bà A kết hôn với nhau, vợ chồng ông Y – bà A sống cùng nhà với cụ Ba. Ông Y được gia đình giao cho giữ gìn và canh tác ruộng vườn để nuôi vợ con. Ông bà Y – A có 06 người con. Năm 1972, ông Y chết; bà A và 06 người con của ông bà sống cùng cụ Ba.

Bà A trình bày: Sau khi chồng bà chết, bà cùng cô con gái lớn tiếp tục canh tác trên 02 thửa đất vườn, ruộng ở xã An Phước và xã Tam An. Lúc còn sống cụ Ba có nói miệng để lại 02 mảnh đất trên cho bà A và 06 người cháu canh tác.

Về nội dung vụ án các bên xác định phần đất tranh chấp hiện nay gồm có:

+ Phần diện tích đất ở xã Tam An có diện tích 10.600m2, thuộc thửa đất số 184, tờ bản đồ số 08, xã Tam An là phần đất nằm trong toàn bộ diện tích đất bà A được UBND huyện Long Thành cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất AD 811198 vào ngày 6/7/1999. Ngày 24/4/2006 gia đình bà A lập “Tờ thỏa thuận phân chia di sản” theo đó bà A cùng các con của bà đồng ý cho anh C được quyền đứng tên quản lý, sử dụng và định đoạt diện tích đất 10.600m2. Trên cơ sở văn bản thỏa thuận ngày 28/8/2006 bà A lập Hợp đồng tặng cho anh C quyền sử dụng đất đối với diện tích đất 10.600m2 nêu trên, được PCC số 4, tỉnh Đồng Nai chứng thực. Ngày 25/9/2006 anh C đã cập nhật trang 4 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ngày 27/10/2006 anh C được UBND huyện Long Thành cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 811198. Qua đăng ký cấp đổi thửa đất số 184, tờ bản đồ số 08, xã Tam An theo tài liệu đo mới là thửa số 29, tờ bản đồ số 58, diện tích 10.977m2 (diện tích tăng 377m2 so với số cũ, do chênh lệch giữa 02 lần đo).

+ Phần diện tích đất tại xã An Phước bà A được UBND huyện Long Thành cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số C 633390 ngày 10/5/1996, thuộc thửa đất số 29, tờ bản đồ số 12, diện tích 2.200m2. Ngày 06/12/2010 bà A và 06 người con lập văn bản “Cam kết đồng thừa kế”, theo đó các con đồng ý để cho bà A thực hiện việc lập thủ tục đứng tên toàn quyền quản lý, sử dụng, chuyển nhượng, tặng cho phần đất có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số C633390 nêu trên. Ngày 10/01/2011 bà A đăng ký cấp đổi, diện tích đất sau cấp đổi là thửa mới 172, tờ bản đồ số 65, diện tích tăng lên 2.362m2, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mới BD 734800. Ngày 07/3/2011 bà A lập hợp đồng tặng cho vợ chồng anh C được UBND xã An Phước chứng thực. Ngày 22/3/2011 vợ chồng anh C được UBND huyện Long Thành cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BD 443330 đối với diện tích đất 2.362m2. Sau đó vợ chồng anh C đã ký kết 02 hợp đồng chuyển nhượng 01 phần diện tích đất này cho những người khác, 02 hợp đồng đã được công chứng chứng thực.

Chồng và mẹ chồng bà A chết không để lại di chúc. Bà A cho rằng việc bà lập hợp đồng tặng cho đất đối với vợ chồng anh C nhằm mục đích để vay tiền làm ăn, chứ không phải cho anh C toàn bộ diện tích đất thuộc 02 thửa đất nêu trên. Nay bà A yêu cầu:

1. Chia tài sản tranh chấp theo pháp luật thừa kế đối với 02 thửa đất nêu trên.

2. Yêu cầu hủy hai hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa bà A và vợ chồng anh C.

Đối với việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa vợ chồng anh C và những người khác thì các bên tự giải quyết, bà không có ý kiến.

Xét thấy, quá trình bà A kê khai và được cấp GCN đối với phần đất thuộc thửa 172, 29 tại xã Tam và xã An Phước là đúng quy định của pháp luật. Do vậy, bà A có toàn quyền của chủ sử dụng đất như quản lý, sử dụng và định đoạt đối với 02 thửa đất trên. Việc bà A ký Hợp đồng tặng cho đối với vợ chồng anh C là hoàn toàn tự nguyện. Tại thời điểm ký kết giao dịch tặng cho quyền sử dụng 02 thửa đất trên bà A là người có đủ năng lực hành vi dân sự và không có căn cứ cho rằng bà A không minh mẫn, bị lừa dối hay bị ép buộc và đã được thực hiện đúng quy định pháp luật, có công chứng, chứng thực của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho vợ chồng anh C đối với 02 thửa đất tại xã An Phước, Tam An chưa bị cơ quan Nhà nước thu hồi hay hủy bỏ, trong thời gian này không phát sinh tranh chấp.

Như vậy, về mặt pháp lý cả 02 hợp đồng tặng cho đảm bảo điều kiện hiệu lực hợp đồng nên cả 02 hợp đồng được xem là hợp pháp, phát sinh hiệu lực pháp luật của hợp đồng. Từ ngày anh C được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với 02 thửa đất nêu trên tức là Nhà nước đã công nhận quyền sử dụng đất hợp pháp của vợ chồng anh C đối với 02 thửa đất này. Quyền sử dụng đất 02 thửa này không còn là di sản thừa kế chưa chia. Do vậy, việc bà A yêu cầu chia di sản thừa kế đối với thửa đất nêu trên và yêu cầu hủy 02 hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất của nguyên đơn bà A là không có cơ sở chấp nhận.

Hình ảnh Kiểm sát viên kiểm sát tại phiên tòa Hình ảnh Kiểm sát viên kiểm sát tại phiên tòa

Tại phiên tòa sơ thẩm, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng, đầy đủ chức năng, nhiệm vụ của người kiểm sát. Đồng thời đã phân tích, vận động, hòa giải để các bên có thể thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án bởi vì các đương sự đều là mẹ, con, anh, chị, em ruột trong cùng gia đình. Tuy nhiên, các bên đương sự vẫn giữ nguyên ý kiến. Hội đồng xét xử tuyên án thống nhất với quan điểm đề xuất của Viện kiểm sát.

Sau khi phiên tòa kết thúc Lãnh đạo đơn vị đã tiến hành họp rút kinh nghiệm đối với toàn thể cán bộ Kiểm sát viên, đưa ra những ưu điểm cũng như hạn chế trong phiên xét xử để mọi người cùng rút kinh nghiệm chung, từ đó góp phần nâng cao chất lượng công tác kiểm sát án dân sự, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho Kiểm sát viên nhằm đáp ứng được yêu cầu công tác hiện nay.

Tác giả bài viết: Trần Thị Nhung - VKSND huyện Long Thành

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

09a-CK/TSC

Công khai tình hình đầu tư xây dựng, mua sắm, giao, thuê tài sản công năm 2025

lượt xem: 10 | lượt tải:6

127/QĐ-VKS

QĐ về việc công bố, công khai số liệu giao dự toán ngân sách nhà nước năm 2026 của VKSND thành phố Đồng Nai

lượt xem: 12 | lượt tải:6

128/QĐ-VKS

QĐ về việc công bố công khai số liệu giao dự toán ngân sách nhà nước năm 2026 của Văn phòng VKSND thành phố Đồng Nai

lượt xem: 11 | lượt tải:6

198/BC-VKS

Báo cáo công khai số liệu và thuyết minh tình hình thực hiện dự toán ngân sách nhà nước 6 tháng năm 2026 của VKSND thành phố Đồng Nai

lượt xem: 13 | lượt tải:10

199/BC-VKS

Báo cáo công khai số liệu và thuyết minh tình hình thực hiện dự toán ngân sách nhà nước 6 tháng năm 2026 của VP VKSND thành phố Đồng Nai

lượt xem: 17 | lượt tải:7
lgo vkstoi cao
banner kiemsat2vks1
tvpl
công khai tài chính
bvpl
TB Trụ sở
Nghị quyết 205
Công khai tài chính
Chithi06
Thống kê truy cập
  • Đang truy cập14
  • Hôm nay877
  • Tháng hiện tại32,606
  • Tổng lượt truy cập19,965,998
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây