1. Tòa án tuyên buộc bị cáo phải chịu án phí nhưng không áp dụng pháp luật về án phí (Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án) hoặc áp dụng quy định đã hết hiệu lực (Pháp lệnh số 10/2009/UBTVQH12 ngày 27/02/2009 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án) hoặc áp dụng điều luật hình sự cũ hết hiệu lực khi luật mới đã có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018. 2. Không viện dẫn những điều luật quy định tại Luật giao thông đường bộ mà bị cáo vi phạm khi xét xử bị cáo phạm tội: “ Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ ” theo khoản 1 Điều 202 Bộ luật hình sự. 3. Áp dụng khoản 2 Điều 202 Bộ luật hình sự (... phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm, ...) để xử phạt bị cáo nhưng không nêu điểm nào. 4. Áp dụng khoản 1 Điều 104 Bộ luật hình sự ( Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây,….. ) để xử phạt bị cáo nhưng không nêu điểm nào của khoản 1. 5. Xét xử vắng mặt bị cáo nhưng bản án không xác định bị cáo vắng mặt thuộc trường hợp nào và không áp dụng điều luật Bộ luật tố tụng hình sự quy định về “Sự có mặt của bị cáo tại phiên tòa”. 6. Bản án căn cứ Nghị quyết số 04/2004/NQ-HĐTP ngày 05/11/2004 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao so sánh hình phạt giữa khoản 2 Điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999 và khoản 2 Điều 137 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 để áp dụng những quy định có lợi cho người phạm tội là không phù hợp mà lẽ ra phải căn cứ Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14…hướng dẫn việc áp dụng những quy định có lợi cho người phạm tội. Tòa án nhân dân tỉnh đã nghiên cứu, đối chiếu pháp luật, công nhận các kiến nghị trên là chính xác và ban hành Công văn số 60/TAT-KTNV ngày 17/01/2018 chỉ đạo Chánh án Tòa án nhân dân cấp huyện phải khắc phục ngay theo nội dung kiến nghị của Viện kiểm sát tỉnh; đồng thời các Tòa án nhân các huyện NT, ĐQ, VC, TN, BH... cũng đã có văn bản phản hồi công nhận sai sót và đề ra biện pháp khắc phục theo quy định pháp luật. Việc vi phạm trên của Tòa án cấp huyện tuy không nghiêm trọng, không dẫn đến phải kháng nghị phúc thẩm để sửa chữa bản án, mà chỉ cần kiến nghị khắc phục trong thời gian tới; nhưng nếu không phát hiện kịp thời thì vi phạm sẽ kéo dài, ảnh hưởng đến tính thống nhất trong việc chấp hành pháp luật và quyền lợi của bị cáo. Vấn đề rất đáng lưu ý là Kiểm sát viên cấp huyện khi thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử vụ án và khi kiểm sát các bản án sơ thẩm trên đều không có ý kiến gì, đến khi Viện kiểm sát tỉnh kiến nghị mới biết bản án có sai sót nên cần đề cao trách nhiệm hơn nữa trong giải quyết án hình sự theo Quyết định số 505/QĐ-VKSTC ngày 18/12/2017 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao ban hành Quy chế công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử vụ án hình sự./. Dương Văn Tín - TP7
Ý kiến bạn đọc