Tại Hội thảo, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai – Kiểm sát viên Bùi Thị Mỹ Ngọc – Kiểm sát viên trung cấp Phòng 3 đã phát biểu bài tham luận “Đánh giá những khó khăn vướng mắc về pháp luật cũng như thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử các vụ án hình sự về động vật hoang dã, giai đoạn từ năm 2012 đến tháng 09/2016” của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai. Theo đó, từ năm 2012 đến ngày 31/8/2016, các Cơ quan tiến hành tố tụng tỉnh Đồng Nai, đã phát hiện điều tra 17 vụ/ 26 bị can đối với tội: “Vi phạm các quy định về bảo vệ động vật thuộc danh mục loai nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ” quy định tại Điều 190 Bộ luật hình sự. Phát biểu tại Hội thảo, Kiểm sát viên Bùi Thị Mỹ Ngọc đã thẳng thắn nêu ra những khó khăn, vướng mắc về pháp luật trong thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử: + Những khó khăn, vướng mắc về pháp luật trong việc xác định, định danh hành vi và áp dụng quy định của pháp luật xử lý các hành vi vi phạm này : - Về đối tượng vi phạm: Một số đối tượng vi phạm trong lĩnh vực này là người dân tộc thiểu số sống lưu trú, lân cận trong rừng, hiểu biết về pháp luật còn hạn chế, không nhận thức được những thành phần động vật rừng nào là thuộc danh mục loài nguy cấp, quý hiếm ưu tiên bảo vệ. Có nghĩa là về ý thức chủ quan là họ không nhận thức được hành vi: săn bắt, giết, vận chuyển, nuôi, nhốt, buôn bán trái phép động vật rừng thuộc danh mục loài nguy cấp quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ hoặc vận chuyển, buôn bán trái phép bộ phận cơ thể hoặc sản phẩm của loài động vật đó là vi phạm pháp luật dẫn đến khó xử lý hình sự. Ví dụ: Trường hợp do biết con Culi có tác dụng cầm máu nên người dân tộc đã bắt giữ nuôi trong nhà để nhằm mục đích phòng bệnh, cầm máu hoặc bắt con Culi bán với giá trị thấp mà không nhận biết được đây là hành vi vi phạm pháp luật. - Về địa hình và thủ đoạn tinh vi của đối tượng phạm tội: Do địa hình phức tạp, diện tích rừng lớn thuộc hai huyện Vĩnh Cửu và Tân Phú, giao thông đi lại khó khăn nên các đối tượng phạm tội đã lợi dụng địa thế tự nhiên hiểm trỡ để vào rừng: săn bắt, giết, vận chuyển, nuôi, nhốt, buôn bán động vật hoang dã. Nhiều trường hợp, đối tượng ở lại lưu trú trong rừng, đặt bẫy, chế biến công cụ săn bẫy, che đậy tinh vi đến khi Cơ quan chức năng phát hiện thì các đối tượng tẩu tán, bỏ trốn, dẫn đến việc phát hiện và bắt các đối tượng gặp nhiều khó khăn. - Những quy định của pháp luật về việc xử lý hành vi vi phạm các quy định về bảo vệ động vật thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ chưa đầy đủ và thống nhất. Cụ thể: theo quy định tại Điều 190 Bộ luật hình sự hiện hành, Thông tư liên tịch số 19/TTLT ngày 08/3/2007 thì chỉ xử lý hình sự các hành vi: săn bắt, giết, vận chuyển, nuôi, nhốt, buôn bán trái phép động vật thuộc danh mục loài nguy cấp quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ hoặc vận chuyển, buôn bán trái phép bộ phận cơ thể hoặc sản phẩm của loài động vật đó… nhưng lại không quy định xử lý hành vi “tàng trữ” các bộ phận cơ thể hoặc sản phẩm của loài động vật đó là còn thiếu sót, chưa đáp ứng được yêu cầu thực tiễn tình hình đấu tranh, phòng chống đối với loại tội phạm này. Thời điểm trước ngày 01/01/2014, giữa các văn bảnquy phạm pháp luật được áp dụng để xử lý hành vi vi phạm các quy định về bảo vệ động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm so với quy định tại Điều 190 Bộ luật hình sự về tội: “Vi phạm các quy định về bảo vệ động vật thuộc danh mục loai nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ” là chưa đầy đủ, thống nhất nên dẫn đến khó khăn trong việc áp dụng pháp luật, cụ thể: + Theo quy định tại Điều 190 Bộ luật hình sự: “Người nào săn bắt, giết, vận chuyển, nuôi, nhốt, buôn bán trái phép động vật thuộc danh mục loài nguy cấp quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ hoặc vận chuyển, buôn bán trái phép bộ phận cơ thể hoặc sản phẩm của loài động vật đó, thì bị…” Tuy nhiên theo quy định của Thông tư liên tịch số 19/TTLT ngày 08/3/2007 và Danh mục động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm thuộc nhóm IB của Nghị định 32/CP/2006 ngày 30/3/2006 thể hiện trong Thông tư số 19, thì chỉ quy định: “…động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm nhóm IB….”, mà không quy định thế nào là được ưu tiên bảo vệ. Từ đó dẫn đến nhiều khó khăn, vướng mắc trên thực tiễn trong việc vận dụng các văn bản quy phạm pháp luật vào quy định của Bộ luật hình sự để xử lý đối với loại tội phạm này. Tuy nhiên từ ngày 01/01/2014 khi Nghị định 160/CP ngày 12/11/2013 có hiệu lực thi hành đã quy định “ động vật rừng nguy cấp, quý hiếm được xác định là loài được ưu tiên bảo vệ….” mới tháo gỡ được vướng mắc trên. - Việc quy định thế nào là 01 cá thể của loài động vật nguy cấp, quý, hiếm thuộc nhóm IB để làm căn cứ xử lý hình sự về tội: “Vi phạm các quy định về bảo vệ động vật thuộc danh mục loai nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ” quy định tại Điều 190 Bộ luật hình sự thì Bộ luật hình sự và Thông tư liên tịch số 19/2007 không quy định cụ thể. Từ đó, thực tiễn cũng gặp rất nhiều khó khăn trong việc áp dụng các quy định của pháp luật để xử lý.Và việc xử lý cũng không có sự thống nhất về nhận thức pháp luật giữa các địa phương. Cụ thể: Trên địa bàn tỉnh Đồng Nai, có huyện các Cơ quan tiến hành tố tụng nhận định: hành vi giết, buôn bán, vận chuyển trái phép bộ phận cơ thể hoặc sản phẩm của loài động vật rừng nguy cấp, quý hiếm nhóm IB là cứ động vật đó không còn đầu thì coi là một cá thể. Nhưng có huyện, các Cơ quan tiến hành tố tụng lại nhận định cứ hành vi buôn bán, vận chuyển một bộ phận của cơ thể - Ví dụ: 01 cánh tay gấu (động vật nguy cấp, quý, hiếm thuộc nhóm IB) thì được xem là 01 cá thể. - Về tình tiết định khung hình phạt của Điều luật: Theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 190 Bộ luật hình sự: “Săn bắt vào thời gian bị cấm”, tình tiết này đã được Thông tư liên tịch số 19/2007 của Bộ NT&PTNT – BỘ TP – Bộ CA – VKSNDTC - TANDTC ngày 08/3/2007 hướng dẫn: “thời gian bị cấm tức là thời gian săn bắt động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm nhóm IB vào mùa sinh sản hoặc vào mùa di cư đến của chúng”. Tuy nhiên đến nay vẫn chưa có văn bản quy phạm pháp luật nào hướng dẫn rõ về mùa sinh sản hoặc mùa di cư đến của loài động vật rừng nguy cấp, quý hiếm thuộc nhóm IB. Từ đó dẫn đến không thể áp dụng tình tiết định khung này để xử lý tội phạm. + Những bất cập, khó khăn vướng mắc trong việc trưng cầu giám định, trưng cầu định giá để xử lý các hành vi vi phạm này: Về trưng cầu giám định: Đối với các sản phẩm của động vật hoang dã và động vật nguy cấp, quý hiếm được ưu tiên bảo vệ khi thu giữ phải được niêm phong để tiến hành giám định ADN nhằm xác định đúng loài, chủng loại để làm căn cứ xử lý. Tuy nhiên, Cơ quan chức năng gặp khó khăn về chi phí bảo quản, lưu giữ và đi lại. Vấn đề khó khăn là sản phẩm động vật quý hiếm được gửi giám định có cùng mẫu ADN hay nhiều mẫu khác nhau do trường hợp sản phẩm của động vật quí hiếm không còn mẫu hoặc mẫu không còn thuần chủng, đã bị lai hóa, thì không có căn cứ, văn bản nào để kết luận mẫu ADN tương ứng với số lượng động vật nguy cấp, quí hiếm bị giết hay bị khai thác. Trên thực tiễn, Chi cục Kiểm lâm tỉnh Đồng Nai đã bắt được một xe ô tô đang vận chuyển lợn rừng thuộc động vật nguy cấp quí hiếm nhóm IB Nghị định 160/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 , sau đó đã đưa mẫu vật chứng đi giám định thì kết quả xác định số vật chứng gửi giám định không còn đồng nhất với mẫu thuần chủng do đã bị lai hóa. Mặc khác, hiện nay việc giám định được trưng cầu tại Viện sinh thái học Miền Nam.Tuy nhiên, giám định viên không phải là giám định viên tư pháp nên không đảm bảo tính pháp lý để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội này. Về định giá: Theo hướng dẫn của Thông tư liên tịch số 19/TTLT ngày 08/3/2007, thì việc quy định về định lượng theo giá trị để làm căn cứ khởi tố, truy tố, xét xử và định khung hình phạt đang gặp nhiều bất cập, khó khăn và vướng mắc. Cụ thể: - Việc quy đổi về định lượng để định tội theo giá trị đến 50.000.000đ đối với hành vi vận chuyển, buôn bán các sản phẩm của động vật hoang dã, động vật rừng thuộc nhóm IB là chưa được khả thi.Bởi lẽ: + Các loài động vật hoang dã, nguy cấp, quý, hiếm thuộc nhóm IB không có giá phổ biến trên thị trường và không có một văn bản quy phạm pháp luật nào hướng dẫn và quy định cụ thể về giá trị các sản phẩm của động vật rừng thuộc nhóm IB để làm căn cứ định giá nên Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự không thể khảo sát giá hay căn cứ vào giá phổ biến trên thị trường để định giá theo quy định của Nghị định 26/2005/NĐ-CP ngày 02/3/2005. Từ vướng mắc, khó khăn trong việc định giá trong tố tụng hình sự làm căn cứ định tội, kéo theo khó khăn trong việc không thể xử lý hình sự về tình tiết “gây hậu quả rất nghiêm trọng” (trên 50.000.000đ đến 100.000.000đ) hoặc “gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng” (trên 100.000.000đ). + Những bất cập, khó khăn vướng mắc khác: Về nguyên tắc tố tụng thì vật chứng phải được bảo quản đến thời điểm xét xử vụ án.Tuy nhiên, hiện nay luật cũng chưa quy định Cơ quan nào là Cơ quan có trách nhiệm bảo quản, nuôi dưỡng vật chứng. Những bất cập, khó khăn và vướng mắc đối với tội “Vi phạm các quy định về bảo vệ động vật thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ” quy định tại Điều 190 Bộ luật hình sự năm 1999 hiện hành, nay đã được Bộ luật hình sự năm 2015 cụ thể hóa tại các Điều 234 vể tội: “Vi phạm quy định về quản lý, bảo vệ động vật hoang dã” và Điều 244, về tội “Vi phạm quy định về quản lý, bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm” cụ thể như sau: - Tại Điều 234 khoản 1 điểm b và Điều 244 khoản 1 điểm b, d, đ Bộ luật hình sự 2015: đã quy định hành vi: Tàng trữ, … trái phép cá thể, bộ phận cơ thể hoặc sản phẩm của loài động vật thuộc danh mục loài nguy cấp, quý hiếm Nhóm IIB và nhóm được ưu tiên bảo vệ… sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Như vậy, Bộ luật hình sự năm 2015 đã quy định đầy đủ các hành vi bị coi là tội phạm, từ đó đã đáp ứng được tình hình đấu tranh, phòng chống đối với loại tội phạm này. - Điều 234 và Điều 244 Bộ luật hình sự năm 2015 không còn quy định tình tiết định khung hình phạt là “Gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng” mà đã cụ thể hóa bằng các quy định về giá trị định lượng (từ 300.000.000đ trở lên), khối lượng kilogam, số lượng cá thể, số lượng bộ phận cơ thể để xử lý hình sự. Từ những quy định mới trong Điều 244 Bộ luật hình sự năm 2015 đã tháo gỡ vướng mắc trong công tác trưng cầu định giá, tức là theo quy định mới này thì không còn phải tiến hành định giá để xác định tình tiết định khung hình phạt là “Gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng”. + Qua đó, cũng đã đưa ra các kiến nghị cụ thể để tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong việc áp dụng để xử lý các hành vi phạm tội “Vi phạm các quy định về bảo vệ động vật thuộc danh mục loai nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ”: Tại các Điều 234 về tội: “Vi phạm quy định về quản lý, bảo vệ động vật hoang dã” và Điều 244, về tội “Vi phạm quy định về quản lý, bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm” của Bộ luật hình sự năm 2015, vẫn còn một số khó khăn, vướng mắc trong việc áp dụng để xử lý các hành vi phạm tội này, nên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai có một số kiến nghị, cụ thể sau đây: - Cần có hướng dẫn hoặc quy định cụ thể thế nào là 01 cá thể của loài động vật hoang dã nhóm IIB và loài động vật nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ thuộc Nhóm IB để có sự thống nhất về nhận thức pháp luật trong việc xử lý tội phạm này. Mặc khác, theo quy định của Điều 244 Bộ luật hình sự năm 2015 đã quy định cụ thể hóa đối với tội phạm này, thì Bộ luật hình sự cũng cần cóquy định hay hướng dẫn thế nào là: “…bộ phận cơ thể không thể tách rời sự sống cùng loài của động vật nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ” để có có sự thống nhất về nhận thức pháp luật trongviệc xử lý. Ví dụ : Đối tượng có hành vi buôn bán, vận chuyển số lượng nhiều cánh tay gấu thuộc loài động vật nhóm IB, thì trong trường hợp này có xem 01 cánh tay gấu là 01 bộ phận cơ thể không thể tách rời sự sống cùng loài của động vật nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ hay không ? - Theo quy định của Điều 234 Bộ luật hình sự năm 2015, định lượng giá trị về động vật hoang dã Nhóm IIB: “..từ 300.000.000đ đối với động vật hoang dã nguy cấp ; từ 500.000.000đ đối với động vật hoang dã thông thường..” để xử lý hình sự đối với tội phạm này, thì cần có văn bản hướng dẫn, quy định cụ thể về giá trị các sản phẩm của động vật hoang dã thuộc nhóm IIB để làm căn cứ định giá, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự không thể khảo sát giá hay căn cứ vào giá phổ biến trên thị trường để định giá theo quy định của Nghị định 26/2005/NĐ-CP ngày 02/3/2005. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai đề xuất nên quy định quy đổi ra số lượng cá thể hoặc trọng lượng theo số ki lô gam để dễ dàng xử lý đối với tội phạm này. - Cần phải có Giám định viên tư pháp trong lĩnh vực động vật hoang dã, nguy cấp, quý hiếm ưu tiên được bảo vệ để kết luận giám định đảm bảo tính pháp lý trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử đối với loại tội phạm này. - Cần quy định cụ thể Cơ quan nào là Cơ quan có trách nhiệm bảo quản, nuôi dưỡng vật chứng vụ ántrong suốt quá trình điều tra, truy tố đến khi xét xử. - Hướngdẫn cụ thể thế nào là mùa sinh sản hoặc mùa di cư đến của loài động vật hoang dã Nhóm IIB và loài động vật nguy cấp, quý hiếm nhóm IB, để áp dụng tình tiết định khung hình phạt “Săn bắt vào thời gian bị cấm” quy định tại điểm d khoản 2 Điều 234 và Điều 244 Bộ luật hình sự năm 2015, để có sự thống nhất về nhận thức pháp luật giữa các địa phương trong áp dụng và xử lý tội phạm này. Hình ảnh đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tại buổi Hội thảo Kết quả của buổi hội thảo sẽ là cơ sở để kiến nghị với Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Liên ngành Trung ương về việc bổ sung, sửa đổi một số điều luật liên quan đến việc xử lý các hành vi vi phạm liên quan đến động vật hoang dã trong Bộ Luật Hình sự (sửa đổi) cũng như là cơ sở để tháo gỡ những khó khăn vướng mắc về pháp luật cũng như thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử các vụ án hình sự về động vật hoang dã của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai nói riêng cũng như toàn Ngành kiểm sát nói chung.
Ý kiến bạn đọc