Thực hiện công tác công tác Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa. Qua nghiên cứu các quy định mới về điều kiện áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính 2020 và các văn bản dưới Luật có liên quan. Kiểm sát viên xin nêu ra một vụ việc được phân công thụ lý kiểm sát nhằm trao đổi kinh nghiệm công tác kiểm sát áp dụng biện pháp biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc được tóm tắt như sau: “Nguyễn Minh Th là đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy. Ngày 12/10/2021, Chủ tịch UBND phường TM ra Quyết định số 02/QĐ-UB áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn đối với Nguyễn Minh T thời hạn quản lý là 04 tháng 15 ngày kể từ ngày 12/10/2021 đến 27/2/2022. Ngày 12/02/2022, Nguyễn Minh Th tiếp tục có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và bị Công an phường TM lập biên bản vi phạm hành chính và Chủ tịch UBND phường TM ra Quyết định số 21/QĐ-UB ngày 21/02/2022 về việc chấm dứt áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn đối với Nguyễn Minh T. Ngày 08/3/2022, UBND phường TM ra Thông báo số 13/TB-UBND về việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với đối tượng Nguyễn Minh T. Ngày 29/3/2022 Phòng Lao động và Thương binh Xã hội thành phố Biên Hòa ra công văn số 01/LĐTBXH đề nghị Tòa án xem xét áp dụng biện pháp biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với đối tượng Nguyễn Minh T.” Hình ảnh minh họa Hình ảnh minh họa Kiểm sát viện được phân công kiểm sát sau khi nghiên cứu hồ sơ tại Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa đã thụ lý vụ việc nhận thấy: Người bị đề nghị áp dụng biện pháp biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc Nguyễn Minh T không thuộc đối tượng theo quy định tại Điều 32 Luật Phòng, chống ma túy năm 2021. Do đó Kiểm sát viên đã chủ động phối hợp trao đổi với Thẩm phán thụ lý vụ việc để đề nghị Phòng Lao động và Thương binh Xã hội thành phố Biên Hòa thực hiện rút đề nghị áp dụng biện pháp biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc Nguyễn Minh T vì không thuộc đối tượng theo Luật Phòng, chống ma túy năm 2021. Ngày 06/4/2022, Phòng Lao động và Thương binh Xã hội thành phố Biên Hòa đã có văn bản rút hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối vói Nguyễn Minh T và Thẩm phán ra Quyết định đình chỉ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Minh T. Kinh nghiệm qua công tác kiểm sát: Từ ngày 01/01/2022, Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật xử lý vi phạm hành chính (Luật số 67/2020/QH14 ngày 13/11/2020); Luật phòng, chống ma túy năm 2021; Nghị định 105/2021/NĐ-CP ngày 04/12/2021 của Chính phủ Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số Điều của Luật Phòng, chống ma túy (Nghị định 105); Nghị định 116 quy định chi tiết một số điều của luật phòng chống ma túy, luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện (Nghị định 116); Nghị định 109/2021/NĐ-CP ngày 08/12/2021 của Chính phủ quy định cơ sở y tế đủ điều kiện xác định tình trạng nghiện ma túy và hồ sơ, trình tự, thủ tục xác định tình trạng nghiện ma túy (Nghị định 109); Thông tư 18/2021/TT-BYT ngày 16/11/2021 của Bộ Y tế quy định tiêu chuẩn chẩn đoán và quy trình chuyên môn để xác định tình trạng nghiện ma túy (Thông tư 18) có hiệu lực thi hành, trong đó có một số quy định mới về áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc cần lưu ý trong quá trình kiểm sát, cụ thể như sau: 1. Quy định về điều kiện áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính 2020: Luật xử lý vi phạm hành chính(XLVPHC) năm 2012 quy định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là biện pháp xử lý hành chính áp dụng đối với người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn mà vẫn còn nghiện hoặc chưa bị áp dụng biện pháp này nhưng không có nơi cư trú ổn định (Điều 96). Luật số 67/2020/QH14 đã sửa đổi quy định nêu trên theo hướng không quy định cụ thể đối tượng bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc mà dẫn chiếu đến Luật Phòng, chống ma túy. Cụ thể: Khoản 1 Điều 96 Luật XLVPHC năm 2012 được sửa đổi, bổ sung như sau: “Người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên thuộc trường hợp bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định của Luật Phòng, chống ma túy”. 2. Quy định về đối tượng bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc: 2.1 Đối tượng từ 18 tuổi trở lên: Theo quy định tại Điều 32 Luật Phòng, chống ma túy năm 2021, người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định của Luật xử lý VPHC khi thuộc một trong các trường hợp sau đây: - Không đăng ký, không thực hiện hoặc tự ý chấm dứt cai nghiện ma túy tự nguyện; - Trong thời gian cai nghiện ma túy tự nguyện bị phát hiện sử dụng trái phép chất ma túy; - Người nghiện ma túy các chất dạng thuốc phiện không đăng ký, không thực hiện hoặc tự ý chấm dứt điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế hoặc bị chấm dứt điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế do vi phạm quy định về điều trị nghiện; - Trong thời gian quản lý sau cai nghiện ma túy mà tái nghiện. Căn cứ các quy định nêu trên, có thể thấy, đối với biện pháp xử lý hành chính đưa vào CSCNBB, Luật số 67/2020/QH14 đã bỏ quy định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn trước khi áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiên bắt buộc đối với đối tượng là người nghiện ma túy có nơi cư trú ổn định. Quy định mới này của Luật số 67/2020/QH14 không còn sự phân biệt giữa người nghiện ma túy có nơi cư trú ổn định và người nghiện ma túy không có nơi cư trú ổn định. Theo đó, tất cả các đối tượng nêu trên, nếu có đủ các điều kiện theo quy định của Luật Phòng, chống ma túy năm 2021 sẽ bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiên bắt buộc. 3. Quy định về trình tự, thủ tục lập hồ sơ: Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật XLVPHC đã sửa đổi, bổ sung các quy định về thủ tục áp dụng các biện pháp xử lý hành chính liên quan đến người nghiện theo hướng đơn giản hóa thủ tục, rút ngắn tối đa các mốc thời gian thực hiện các công việc, quá trình áp dụng biện pháp đưa vào CSCNBB, tạo điều kiện thuận lợi cho cơ quan, người có thẩm quyền áp dụng, cụ thể: Luật sửa đổi các quy định liên quan đến thủ tục kiểm tra tính pháp lý của hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo hướng: (1) Không quy định việc kiểm tra tính pháp lý thành một thủ tục riêng biệt, độc lập; (2) không quy định thẩm quyền kiểm tra tính pháp lý của Trưởng phòng Tư pháp cấp huyện đối với hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào CSCNBB. Thay vào đó, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật XLVPHC quy định rõ, cơ quan nào lập hồ sơ đề nghị thì phải chịu trách nhiệm về tính pháp lý của hồ sơ (Điều 103). 4. Quy định về quản lý người nghiện ma túy (Luật phòng chống ma túy): Luật quy định việc quản lý người sử dụng ma túy ngay từ lần đầu. Thời hạn quản lý là 1 năm kể từ ngày có quyết định quản lý của Chủ tịch UBND cấp xã. Bổ sung các quy định nhằm quản lý chặt chẽ người sử dụng trái phép chất ma túy và người nghiện ma túy như: + Người sử dụng trái phép chất ma túy được Công an xã nơi cư trú lập danh sách và được quản lý, theo dõi, hỗ trợ trong thời gian 01 năm kể từ ngày Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã ra quyết định quản lý. Luật quy định quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy không phải là biện pháp xử lý hành chính. (Điều 23) + Người nghiện ma túy trong thời hạn cai nghiện tự nguyện hoặc điều trị nghiện chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế bị phát hiện sử dụng trái phép chất ma túy thì bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. (Điều 32) + Người đã hoàn thành cai nghiện ma túy tự nguyện, người đã hoàn thành điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế phải chịu quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú. (Điều 40) - Bổ sung quy trình cai nghiện ma túy gồm các bước: (1) Tiếp nhận, phân loại; (2) Điều trị cắt cơn, giải độc, điều trị các rối loạn tâm thần, điều trị các bệnh lý khác; (3) Giáo dục, tư vấn, phục hồi hành vi, nhân cách; (4) Lao động trị liệu, học nghề; (5) Chuẩn bị tái hòa nhập cộng đồng. Việc cai nghiện ma túy bắt buộc phải bảo đảm đầy đủ 05 giai đoạn trên; việc cai nghiện ma túy tự nguyện phải bảo đảm hoàn thành đủ 03 giai đoạn (1), (2), (3). 5. Quy định về địa điểm xác định tình trạng nghiện ma túy (khoản 2 Điều 2 Nghị định 109): + Địa điểm xác định tình trạng nghiện ma túy được thực hiện tại nơi giam giữ hành chính đối với người bị tạm giữ theo thủ tục hành chính quy định tại Luật xử lý vi phạm hành chính. + Địa điểm xác định tình trạng nghiện ma túy được thực hiện tại cơ sở y tế đủ điều kiện hoặc địa điểm do cơ quan Công an đề nghị xác định tình trạng nghiện ma túy thống nhất với cơ sở y tế lựa chọn đối với người không bị tạm giữ theo thủ tục hành chính. Cơ quan Công an có trách nhiệm phối hợp với cơ sở y tế bảo đảm đủ các điều kiện cần thiết cho việc thực hiện xác định tình trạng nghiện ma túy tại địa điểm được lựa chọn. 6. Quy định về cơ sở y tế đủ điều kiện xác định tình trạng nghiện ma túy (Điều 3 Nghị định109): Nghị định 109 có nhiều quy định mới về điều kiện cơ sở y tế thực hiện xác định tình trạng nghiện ma túy. Theo đó, cơ sở y tế thực hiện xác định tình trạng nghiện ma túy phải đáp ứng đủ các điều kiện sau: + Là cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có giấy phép hoạt động khám bệnh, chữa bệnh với phạm vi hoạt động chuyên môn khám bệnh, chữa bệnh chuyên khoa nội hoặc chuyên khoa tâm thần hoặc điều trị hỗ trợ cai nghiện ma túy hoặc điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế; cơ sở giám định pháp y tâm thần. + Theo quy định cũ tại Thông tư Liên tịch số 17/2015/TTLT-BYT-BLĐTBXH-BCA ngày 09/7/2015, người có thẩm quyền xác định tình trạng nghiện ma túy là Bác sỹ hoặc y sỹ…. theo quy định tại Nghị định 109/2021/NĐ-CP chỉ có Bác sĩ đáp ứng đầy đủ các yêu cầu theo quy định tại khoản 2 Điều 3 của Nghị định mới có thẩm quyền xác định tình trạng nghiện ma túy, y sỹ không còn thẩm quyền xác định tình trạng nghiện ma túy nữa, trừ trường hợp quy định tại Điều 11 Nghị định 109. 7. Hệ thống biểu mẫu sử dụng trong cai nghiện ma túy bắt buộc: Kể từ ngày Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật xử lý vi phạm hành chính; Luật phòng, chống ma túy năm 2021 và các văn bản hướng dẫn có hiệu lực thi hành (01/01/2022) biểu mẫu sử dụng trong công tác lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào CSCNBB được thực hiện theo hệ thống biểu mẫu ban hành kèm theo Nghị định 116, Nghị định 109 của Chính phủ…
Tác giả bài viết: Trương Tùng Sơn – VKSND TP Biên Hòa
Ý kiến bạn đọc