1.Nhận xét, đánh giá: +Về thực trạng chung: Qua công tác kiểm sát giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại, lao động (gọi tắt là kiểm sát giải quyết án dân sự) của Tòa án nhận thấy: Trong quá trình giải quyết các vụ án dân sự, số lượng án tạm đình chỉ chiếm số lượng khá lớn hầu hết lý do tạm đình chỉ giải quyết vụ án đều phù hợp với quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tuy nhiên, trên cơ sở quy định của pháp luật hiện hành, Viện kiểm sát thực hiện chức năng kiểm sát cũng gặp nhiều khó khăn, nhất là số lượng án dân sự Tòa 02 cấp thụ lý ngày càng tăng, tính chất vụ việc ngày càng phức tạp. Bộ luật tố tụng dân sự quy định thời hạn chuẩn bị xét xử đối với án dân sự tối đa là 6 tháng, án kinh doanh thương mại, lao động tối đa là 3 tháng kể từ ngày thụ lý nên áp lực công việc của Thẩm phán lớn. Để giảm áp lực giải quyết án quá hạn, một số Thẩm phán lạm dụng việc tạm đình chỉ giải quyết vụ án để được tính lại từ đầu thời hạn tố tụng hay viện dẫn các lý do “Cần đợi Cơ quan, tổ chức cung cấp tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án mới giải quyết được vụ án mà thời hạn giải quyết đã hết” hoặc “đương sự có đơn đề nghị tạm đình chỉ vụ án để bổ sung chứng cứ” để ra Quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án. Cụ thể: Khoản 2 Điều 194 BLTTDS 2004 và khoản 2 Điều 214 BLTTDS 2015 đều có quy định trong thời hạn 05 ngày (Điều 194 BLTTDS năm 2004) hoặc 03 ngày (Điều 214 BLTTDS năm 2015) làm việc, kể từ ngày ra các quyết định trên, Tòa án phải gửi quyết định đó cho đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện và Viện kiểm sát cùng cấp. Các quy định này cũng thể hiện việc gửi các quyết định tố tụng chứ không gửi các tài liệu kèm theo nên khi nhận được các quyết định nêu trên, Viện kiểm sát chỉ kiểm sát được hình thức của Quyết định, chứ không thể kiểm sát toàn diện nội dung của quyết định. Để làm được việc này, Kiểm sát viên cũng phối hợp với Thẩm phán phôto các tài liệu, chứng cứ mà Tòa án ra quyết định tạm đình chỉ để làm căn cứ kiểm sát. Viện kiểm sát chỉ kiểm sát tốt được các quyết định này khi Viện kiểm sát nhận được đơn khiếu nại hoặc đơn kháng cáo của đương sự, lúc này mới thực hiện được quyền yêu cầu Tòa cung cấp hồ sơ để kiểm tra, đối chiếu làm căn cứ thực hiện quyền kiến nghị, kháng nghị theo thẩm quyền luật định. Từ đó cho thấy, công tác kiểm sát các quyết định này rất bị động, không mang tính kịp thời và chưa thể hiện hết quyền năng pháp lý của Viện kiểm sát theo quy định của Luật tổ chức Viện kiểm sát năm 2014 và pháp luật tố tụng dân sự. +Về kết quả đạt được: Ngày 17/4/2017 Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai ban hành Kế hoạch số 450/KH-VKS và Thông báo lịch kiểm tra bổ sung số 598 ngày 19/5/2017, dưới sự chủ trì của đồng chí Phó Viện trưởng lãnh đạo phụ trách khối đoàn kiểm tra Viện kiểm sát nhân dân tỉnh qua hơn 01 tháng tiến hành kiểm tra 10/11 huyện, thị (trừ VKSND huyện Định Quán đã kiểm tra từ đầu năm) kết quả như sau: Phòng nghiệp vụ Viện tỉnh (Phòng 9, Phòng 10) và Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện thực hiện rất nghiêm túc chỉ đạo của Ban Lãnh đạo tỉnh Đồng Nai, đã xác định việc tăng cường công tác kiểm sát các Quyết định tạm đình chỉ giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại, lao động là khâu công tác đột phá của năm 2017 đưa vào Kế hoạch, Chương trình công tác của đơn vị đồng loạt triển khai thực hiện ngay từ đầu năm. Lãnh đạo Phòng nghiệp vụ và Ban Lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân huyện luôn quan tâm chỉ đạo cho cán bộ, Kiểm sát viên và phối hợp với Tòa cùng cấp tăng cường rà soát, đối chiếu số liệu, chuyển giao các Quyết định tạm đình chỉ cho Viện kiểm sát cùng cấp đúng luật định, đảm bảo không để Tòa cùng cấp ban hành Quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án, không chuyển giao cho Viện kiểm sát theo quy định dẫn đến Viện kiểm sát cùng cấp không kịp thời phát hiện để thực hiện quyền kiến nghị, kháng nghị. Nhờ có sự quan tâm, chỉ đạo của Ban Cán sự Đảng, Ban lãnh đạo Viện tỉnh, đến nay Phòng nghiệp vụ cũng như Viện kiểm sát nhân dân 11 huyện, thị đều củng cố lại hệ thống sổ sách, hồ sơ, đều lập danh sách theo dõi thường xuyên các Quyết định tạm đình chỉ của Tòa cùng cấp (có vi phạm hoặc không có vi phạm) phục vụ tốt công tác báo cáo, thống kê, kiến nghị, kháng nghị. +Về công tác kiểm sát các Quyết định tạm đình chỉ dân sự của Viện kiểm sát 02 cấp tỉnh Đồng Nai: Việc kiểm sát các Quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại, lao động không chỉ Phòng nghiệp vụ Viện tỉnh thực hiện kiểm sát đảm bảo đúng quy chế nghiệp vụ của Ngành, phần lớn Viện kiểm sát nhân dân huyện đều thực hiện rất tốt, từng Quyết định tạm đình chỉ đều có lập thành từng hồ sơ riêng, lưu trữ rất đầy đủ các tài liệu liên quan như: Thông báo thụ lý vụ án, Quyết định phân công Kiểm sát viên, Quyết định tạm đình chỉ, Quyết định tiếp tục giải quyết vụ án (nếu có), phiếu Kiểm sát và các tài liệu có liên quan, có đóng dấu công văn đến ghi rõ ngày, tháng, năm nhận, làm căn cứ lập phiếu kiểm sát, kiến nghị, kháng nghị. Điển hình các đơn vị thực hiện rất tốt khâu đột phá này như: Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch, Xuân Lộc, Long Thành, Thống Nhất, Vĩnh Cữu. Các Kiểm sát viên, chuyên viên được lãnh đạo phân công làm khâu công tác này rất tích cực và có nhiều cố gắng trong công tác kiểm sát các quyết định tạm đình chỉ án dân sự, ngoài việc phối hợp với Tòa cùng cấp theo dõi, kiểm sát chặt chẽ các quyết định tạm đình chỉ do Tòa án ban hành còn nêu cao tinh thần trách nhiệm, tăng cường kiểm sát, chịu khó nghiên cứu các văn bản, quy định pháp luật có liên quan kịp thời phát hiện vi phạm, tham mưu cho lãnh đạo Viện kiến nghị yêu cầu Tòa cùng cấp chấn chỉnh, khắc phục vi phạm; Kể từ khi khâu công tác đột phá kiểm sát các Quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự được Viện kiểm sát 02 cấp tỉnh Đồng Nai đồng loạt triển khai, thực hiện, tính đến thời điểm 31/5/2017 Viện kiểm sát 02 cấp đã thực hiện 39 văn bản kiến nghị (Huyện 37, tỉnh 02) liên quan đến quyết định tạm đình chỉ có vi phạm, gồm: VKS huyện Nhơn Trạch 11 văn bản, Viện kiểm sát huyện Long Thành và huyện Vĩnh Cửu mỗi nơi 04 văn bản, VKS huyện Trảng Bom, Xuân Lộc, Cẩm Mỹ và thành phố Biên Hòa mỗi nơi 03 văn bản, VKS huyện Tân Phú, Thống Nhất, thị xã Long Khánh và VKS tỉnh mỗi nơi 02 văn bản kiến nghị; Việc kiến nghị trên có tác động rất tích cực đến Tòa cùng cấp theo số liệu thống kê tổng số án tạm đình chỉ giải quyết án dân sự do Tòa án 02 cấp ban hành tồn cũ từ 30/11/ 2016 trở về trước và từ ngày 01/12/2016 đến 31/5/2017 là: 1.706 quyết định (huyện 1.541, tỉnh 165), qua kiến nghị Tòa cùng cấp đã phục hồi: 1.118 quyết định (huyện 1.093, tỉnh 25) chiếm tỷ lệ: 66%/ tổng số quyết định tạm đình chỉ. Hiện còn tồn: 588 quyết định (so với quyết định tạm đình chỉ còn tồn trước thời điểm năm 2016, số án tạm đình chỉ giảm khoảng 65%). -Những hạn chế và nguyên nhân: *Hạn chế: Bên cạnh những mặt tích cực, đạt được nêu trên qua công tác kiểm tra Viện kiểm sát huyện vẫn còn một số tồn tại, hạn chế như sau: +Mặc dù, quy chế nghiệp vụ không bắt buộc phải lập thành từng hồ sơ riêng đối với quyết định tạm đình chỉ nhưng việc lập hồ sơ quyết định tạm đình chỉ trong đó lưu trữ đầy đủ tài liệu như: Thông báo thụ lý vụ án, quyết định phân công Kiểm sát viên, Quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án, phiếu kiểm sát và các tài liệu có liên quan đến việc tam đình chỉ, quyết định tiếp tục giải quyết vụ án là rất cần thiết, dễ theo dõi và dễ phát hiện vi phạm, tuy các đơn vị VKS huyện đều đã lập thành từng hồ sơ riêng đối với các quyết định tạm đình chỉ nhưng hồ sơ kiểm sát của một vài đơn vị còn chưa thể hiện đầy đủ từ giai đoạn thụ lý vụ án đến khi có quyết định tạm đình chỉ hoặc chưa thể hiện sự phối hợp tốt giữa Kiểm sát viên và Thẩm phán cung cấp văn bản, tài liệu liên quan làm căn cứ ban hành Quyết định tạm đình chỉ; +Còn nhiều Kiểm sát viên được phân công kiểm sát các quyết định tạm đình chỉ, nội dung kiểm sát còn chưa chặt chẽ, ghi không đầy đủ thông tin theo mẫu phiếu kiểm sát, chưa phân biệt được trường hợp nào áp dụng điểm d, hoặc điểm đ khoản 1 Điều 214 BLTTDS năm 2015, chưa xác định rõ trường hợp nào thời hạn chờ tối đa là 01 tháng kể từ ngày nhận quyết định ủy thác theo Đ 105 BLTTDS và trường hợp nào thời hạn chờ tối đa là 15 ngày kể từ ngày cơ quan, tổ chức nhận được yêu cầu Điều 106 BLTTDS 2015. +Khi nhận được các Quyết định tạm đình chỉ hoặc Quyết định tiếp tục giải quyết vụ án do Tòa cùng cấp chuyển đến, Viện kiểm sát huyện chưa thực hiện đóng dấu công văn đến để ghi nhận ngày gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp có đúng hạn luật định hay không? Và làm cơ sở tính lại thời hạn chuẩn bị xét xử bắt đầu từ thời gian nào?; +Thời gian từ ngày thụ lý vụ án đến ngày ban hành Quyết định tạm đình chỉ hoặc từ ngày ban hành Quyết định tiếp tục giải quyết vụ án để quá hạn kéo dài hơn 3 tháng hoặc 6 tháng theo Điều 203 BLTTDS 2015 nhưng chưa được phát hiện kịp thời tập hợp kiến nghị với Tòa cùng cấp chấn chỉnh, khắc phục; +Trong công tác kiến nghị, tuy việc phát hiện vi phạm là chính xác, đúng luật định nhưng nội dung văn bản kiến nghị sử dụng thuật ngữ chưa chính xác (không nên sử dụng từ “có dấu hiệu vi phạm” để kiến nghị) hoặc kiến nghị còn chung chung, không ghi cụ thể ngày vi phạm nhiều nhất hoặc ít nhất là bao nhiêu. * Nguyên nhân hạn chế: * Nguyên nhân khách quan: -Số lượng các vụ án dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại, lao động Tòa cùng cấp thụ lý ngày càng tăng, năm sau luôn cao hơn năm trước, nhất là các vụ án tranh chấp liên quan đến quyền sử dụng đất ngày càng đa dạng và phức tạp. Trong khi đó, quy định của luật chưa rõ ràng, đầy đủ nên áp lực công việc rất lớn, Kiểm sát viên gặp nhiều khó khăn, vướng mắc khi kiểm sát giải quyết các vụ việc dân sự. -Viện kiểm sát nhân dân tối cao tổ chức tập huấn nghiệp vụ chưa thường xuyên, số lần tổ chức và số lượt cán bộ, Kiểm sát viên được tập huấn còn ít. * Nguyên nhân chủ quan: -Lực lượng biên chế của một vài đơn vị Viện kiểm sát huyện còn mỏng, lượng án dân sự thụ lý hàng năm tăng cao, áp lực công việc nhiều nhưng phân bổ biên chế chưa hợp lý, khó đảm đương trong công việc, một số đơn vị lãnh đạo Viện kiểm sát huyện chưa thường xuyên kiểm tra, đôn đốc, nhắc nhở Kiểm sát viên thực hiện công tác kiểm sát theo quy chế nghiệp vụ. -Một số Kiểm sát viên chưa đầu tư nghiên cứu, nắm vững các quy định của pháp luật và hướng dẫn nghiệp vụ của ngành trong công tác kiểm sát các vụ việc dân sự nên không phát hiện được vi phạm để kiến nghị kịp thời. -Việc phối hợp giữa Kiểm sát viên với Thẩm phán trong công tác kiểm sát thu thập văn bản, tài liệu có liên quan đến tạm đình chỉ để thực hiện nhiệm vụ kiểm sát còn hạn chế. 2. Một số dạng vi phạm thường gặp đối với quyết định tạm đình chỉ: *Vi phạm về thể thức ban hành: Quyết định tạm đình chỉ giải quyết án dân sự không thực hiện đúng hướng dẫn biểu mẫu số 10a, 10b của Nghị quyết số 05/2012 ngày 03/12/2012 (hiện nay là biểu mẫu số 41, 42 –DS ban hành kèm theo Nghị Quyết số 01/2017 ngày 13/01/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao có hiệu lực thi hành từ ngày 24/02/2017, có nhiều sai sót so với chú thích hướng dẫn Nghị quyết đính kèm như: +Quyết định ghi không đúng ký hiệu loại kiện, ghi không đầy đủ nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan (nếu có) kể cả ghi không chính xác địa chỉ cá nhân, trụ sở cơ quan, tổ chức hoặc sử dụng biểu mẫu cũ, không cập nhật biểu mẫu mới để ban hành đúng quy định; +Vi phạm về thời hạn gửi Quyết định tạm đình chỉ: Khoản 2 Điều 214. Tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự :“ 2. Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự , Tòa án phải gửi quyết định đó cho đương sự , cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện và Viện kiểm sát cùng cấp ” . Nhưng trên thực tế, Tòa cấp sơ thẩm sau khi ban hành Quyết định tạm đình chỉ không gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp đúng thời hạn Luật định +Quyết định tạm đình chỉ không ghi quyền kháng nghị của Viện kiểm sát như mẫu số 11A ban hành kèm theo Nghị quyết số 05/2012/NQ-HĐTP ngày 3/12/2012 và Nghị quyết số 01/2017 ngày 13/01/2017 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC; *Vi phạm về nội dung Quyết định tạm đình chỉ: Trong thời gian qua, các quyết định tạm đình chỉ giải quyết án dân sự tuy có vi phạm về nội dung nhưng Viện kiểm sát 02 cấp tỉnh Đồng Nai chỉ phát hiện vi phạm ở mức độ kiến nghị khắc phục được, chưa phát hiện trường hợp nào Tòa án ban hành Quyết định tạm đình chỉ trái quy định pháp luật gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự để kháng nghị, chủ yếu tập trung các dạng vi phạm phổ biến sau: -Về lý do ban hành quyết định tạm đình chỉ: Không ghi rõ tạm đình chỉ theo điểm, khoản Điều luật nào của Bộ luật tố tụng dân sự để làm căn cứ ban hành Quyết định; +Ghi không rõ ràng , cụ thể tên cơ quan, tổ chức, cá nhân nào có trách nhiệm cung cấp tài liệu, chứng cứ hoặc ủy thác thu thập chứng cứ; Có nhiều trường hợp lý do tạm đình chỉ chờ kết quả đo đạc, kết quả trả lời của Văn phòng đăng ký đất đai hoặc chờ kết quả thẩm định giá thay vì áp dụng điểm đ, khoản 1, Điều 214 BLTTDS năm 2015 nhưng Tòa sơ thẩm lại áp dụng điểm d, khoản 1, Điều 214 BLTTDS năm 2015 (Cần đợi kết quả giải quyết vụ án khác có liên quan hoặc sự việc được pháp luật quy định do cơ quan, tổ chức khác giải quyết trước mới giải quyết được vụ án) là không đúng; -Quyết định tạm đình chỉ Tòa áp dụng Điều 189 BLTTDS sửa đổi, bổ sung năm 2011 hoặc điểm đ khoản 1 Điều 214 BLTTDS năm 2015 nhưng Thẩm phán được phân công để kéo dài thời gian chờ cơ quan, tổ chức cung cấp tài liệu, chứng cứ, không theo dõi, đôn đốc cơ quan, tổ chức, cá nhân khắc phục trong thời gian ngắn nhất để đưa vụ án ra giải quyết theo quy định tại khoản 4 Điều 215 BLTTDS năm 2015. Cụ thể: Theo quy định tại khoản 3 Điều 105 và khoản 3 Điều 106 BLTTDS năm 2015 ( Khoản 3 Điều 93, khoản 2 Điều 94* BLTTDS năm 2004 sửa đổi, bổ sung năm 2011) thì thời hạn cơ quan, tổ chức, cá nhân trả lời cho Tòa án tối đa là 01 tháng kể từ ngày nhận được yêu cầu nhưng có nhiều vụ Thẩm phán để thời gian chờ kéo dài ít nhất là 01 tháng nhiều nhất là 04 năm (chủ yếu là chờ kết quả đo đạc, thẩm định, chờ kết quả cung cấp chứng cứ hoặc kết quả trả lời của Văn phòng đăng ký QSD đất) vẫn chưa có Quyết định tiếp tục giải quyết vụ án. -Đối với Quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án với lý do “Cần đợi kết quả ủy thác tư pháp”. Lý do tạm đình chỉ này thuộc án dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại, lao động có yếu tố nước ngoài, Tòa án nhân dân tỉnh thụ lý giải quyết theo thủ tục sơ thẩm. So với bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 sửa đổi, bổ sung năm 2011 thì Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2016) quy định thời hạn ủy thác tư pháp rất rõ ràng, cần lưu ý: Về thời hạn ủy thác tư pháp: Tại các Điều 476, 477 BLTTDS năm 2015 quy định rất cụ thể về thời hạn ủy thác tư pháp và thời hạn mở phiên tòa giải quyết vụ án dân sự có yếu tố nước ngoài. +Điểm b Điều 476: “ Phiên tòa phải được mở sớm nhất là 09 tháng và chậm nhất là 12 tháng, kể từ ngày ra văn bản thông báo thụ lý vụ án. Ngày mở lại phiên tòa (nếu có) được ấn định cách ngày mở phiên tòa chậm nhất là 01 tháng, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 477 của Bộ luật này” +Tại khoản 4 Điều 477 BLTTDS có nêu: “ Tòa án không nhận được văn bản thông báo về kết quả tống đạt cũng như lời khai, tài liệu, chứng cứ của đương sự ở nước ngoài, nếu họ không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt thì Tòa án hoãn phiên tòa. Ngay sau khi hoãn phiên tòa thì Tòa án có văn bản đề nghị Bộ Tư pháp thực hiện tống đạt văn bản tố tụng của Tòa án cho đương sự ở nước ngoài…” “ …Hết thời hạn 03 tháng, kể từ ngày chuyển văn bản của Tòa án cho cơ quan có thẩm quyền ở nước ngoài mà không nhận được văn bản trả lời…” thì Tòa án xét xử vắng mặt đương sự ở nước ngoài. Như vậy, tổng hợp thời hạn ủy thác tư pháp do BLTTDS năm 2015 quy định tại các Điều 476, 477 thì thời hạn chậm nhất là 16 tháng (12 tháng + 01 tháng + 03 tháng) kể từ ngày Tòa ra văn bản thông báo thụ lý vụ án thì Tòa án phải mở phiên tòa giải quyết vụ kiện. (Kể cả trường hợp Tòa án ban hành Quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án thì tính theo vòng tố tụng trên chỉ tối đa là 16 tháng kể từ ngày thụ lý vụ án Tòa án phải ra Quyết định tiếp tục giải quyết vụ án). Tuy nhiên, trên thực tế trong thời gian qua cá Quyết định tạm đình chỉ với lý do chờ kết quả ủy thác tư pháp thời gian để kéo dài không thời hạn có có nhiều vụ ủy thác tư pháp từ năm 2011, 2012, 2013, 2014 đến nay vẫn chưa giải quyết; -Tòa cấp sơ thẩm áp dụng điểm h khoản 1 Điều 214 BLTTDS năm 2015 ban hành Quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án với lý do “Nguyên đơn có đơn xin tạm đình chỉ giải quyết vụ án” không nêu rõ lý do gì sao nguyên đơn xin tạm đình chỉ cũng như căn cứ chứng minh cho yêu cầu của nguyên đơn là chính đáng là không đúng quy định pháp luật. Bởi lẽ: Điểm h, khoản 1 Điều 214 BLTTDS quy định: “các trường hợp khác theo quy định của pháp luật” được hiểu là các trường hợp không quy định từ điểm a đến điểm g Điều 214 BLTTDS, nhưng lại có quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hoặc có quy định tại các điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên. Khoản 18 Điều 70 BLTTDS quy định quyền, nghĩa vụ của đương sự: “Đề nghị Tòa án tạm đình chỉ giải quyết vụ án theo quy định của Bộ luật này” nghĩa là đương sự có quyền đề nghị Tòa án tạm đình chỉ giải quyết vụ án là quyền do pháp luật tố tụng dân sự quy định, nếu đề nghị đó là hợp pháp và có căn cứ thì Tòa án chấp nhận. Còn trường hợp đề nghị không có căn cứ thì Tòa án không chấp nhận . Tuy nhiên, Tòa án tạm đình chỉ giải quyết vụ án chỉ với lý do “ đương sự xin tạm đình chỉ” mà không kèm theo căn cứ hoặc lý do chính đáng nào khác do BLTTDS quy định là Quyết định tạm đình chỉ không đúng với quy định tại Điều 214 BLTTDS. 3. Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng QĐ tạm đình chỉ: -Về Công tác lãnh đạo, quản lý của Lãnh đạo đơn vị đối với công tác kiểm sát các Quyết định tạm đình chỉ: Cần chỉ đạo lập sổ sách theo dõi riêng từng Quyết định tạm đình chỉ, khi nhận các quyết định này phải có ký nhận, cập nhật công văn đến, phân công Kiểm sát viên nghiên cứu, lập phiếu kiểm sát và phân công một đầu mối cho cán bộ làm công tác thống kê lập danh sách quản lý đầy đủ các Quyết định này và phân loại riêng danh sách quyết định tạm đình chỉ có vi phạm (hình thức, nội dung, thời hạn) và danh sách quyết định tạm đình chỉ không có vi phạm Hàng tuần, cử cán bộ phối hợp với Tòa án rà soát số liệu Quyết định tạm đình chỉ đã chuyển giao cho Viện kiểm sát cùng cấp hay chưa. Hàng tháng, có báo cáo đầy đủ và kịp thời về Phòng nghiệp vụ Viện tỉnh (Phòng 9, Phòng 10) tình hình kiểm sát các Quyết định tạm đình chỉ của Tòa cùng cấp. Thường xuyên quan tâm đôn đốc hoặc kiến nghị với Lãnh đạo Tòa án có biện pháp nhanh chóng đưa ra giải quyết những vụ việc tạm đình chỉ nhưng đã hết thời hạn hoặc lý do tạm đình chỉ không còn. -Về trách nhiệm của Kiểm sát viên được phân công kiểm sát các quyết định tạm đình chỉ: Ngoài việc thường xuyên chịu khó nghiên cứu văn bản pháp luật có liên quan để phục vụ cho yêu cầu, nhiệm vụ công tác, Kiểm sát viên cần phải nâng cao tinh thần trách nhiệm thực hiện lập phiếu kiểm sát các Quyết định tạm đình chỉ theo Quy chế nghiệp vụ, từng Kiểm sát viên có sổ sách, quản lý theo dõi riêng định kỳ hàng tháng, quý tổng hợp rà soát các quyết định tạm đình chỉ có vi phạm tham mưu cho Lãnh đạo Viện có biện pháp tác động hoặc kiến nghị Tòa cùng cấp chấn chỉnh, khắc phục kịp thời. -Về phương thức kiểm sát các quyết định tạm đình chỉ giải quyết các vụ việc dân sự: Tại khoản 2 Điều 214 BLTTDS năm 2015 quy định: “Trong thời hạn 3 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự. Tòa án phải gửi quyết định đó cho …VKS cùng cấp” . Để kiểm sát tốt các quyết định tạm đình chỉ Kiểm sát viên được phân công cần tập trung nghiên cứu những vấn đề sau: +Kiểm sát về thời hạn gửi quyết định: Ngày mà Tòa án gửi quyết định cho VKS có quá 03 ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định hay không? (khoản 2 Điều 214 BLTTDS) +Kiểm sát về hình thức xem quyết định có đúng mẫu số 41 Nghị quyết 01/2017/NQ-HĐTP ngày 13-01-2017 của Hội đồng thẩm phán TANDTC hay không? +Kiểm sát về nội dung quyết định: Số, ngày thụ lý, tên tuổi địa chỉ của đương sự có đúng với thông báo thụ lý đã nhận được trước đây hay không?. Qua quan hệ pháp luật, địa chỉ của đương sự xác định có đúng thẩm quyền (vụ việc, cấp, lãnh thổ) hay không?. Kiểm sát về căn cứ ra quyết định: Phải xem xét lý do tạm đình chỉ có thuộc một trong các trường hợp tại Điều 214 BLTTDS năm 2015 không? Nếu Tòa án tạm đình chỉ theo Điểm đ khoản 1 Điều 214 BLTTDS năm 2015 thì phải vận dụng về thời hạn yêu cầu cung cấp chứng cứ hoặc thu thập chứng cứ theo quy định tại Điều 105, Điều 106 BLTTDS năm 2015. Nếu áp dụng điểm h khoản 1 Điều 214 BLTTDS “các trường hợp khác theo quy định của pháp luật” thì phải yêu cầu Tòa án nêu rõ lý do trường hợp khác cụ thể là trường hợp nào? điều luật làm căn cứ ? hoặc có chứng cứ chứng minh lý do tạm đình chỉ là chính đáng hay không?. -Trường hợp Tòa án ghi lý do tạm đình chỉ chung chung, không cụ thể (ví dụ: chờ kết qủa ủy thác thu thập chứng cứ; chờ cơ quan có thẩm quyền cung cấp tài liệu, chứng cứ; nguyên đơn yêu cầu) thì phải yêu cầu Tòa án nêu rõ lý do tạm đình chỉ trong quyết định nhằm tạo điều kiện cho đương sự, Viện kiểm sát biết để họ có thể thực hiện được quyền kháng cáo, kiến nghị, kháng nghị của mình. -Đối với văn bản kiến nghị của Viện kiểm sát: Về hình thức biểu mẫu kiến nghị thực hiện đúng theo biểu mẫu số 10, biểu mẫu văn bản tố tụng nghiệp vụ tạm thời trong lĩnh vực kiểm sát hoạt động tư pháp của Vụ 9 VKSTC và để công tác kiến nghị đạt hiệu quả các văn bản kiến nghị cần lưu ý về nơi gửi, cụ thể phải gửi: Thường trực Huyện ủy (Thành ủy, Thị ủy), Thường trực Hội đồng nhân dân, Ban pháp chế Hội đồng nhân dân, Thường trực Mặt trận Tổ quốc, Chánh án Tòa án nhân dân tỉnh và Viện trưởng VKSND tỉnh biết, tác động chỉ đạo chấn chỉnh khắc phục./. La Minh Dũng - Trưởng Phòng 9
Ý kiến bạn đọc