THÔNG BÁO RÚT KINH NGHIỆM VỤ ÁN DÂN SỰ BỊ CẤP PHÚC THẨM HỦY ÁN VỀ CHIA TÀI SẢN CHUNG VỢ, CHỒNG ĐỂ GIẢI QUYẾT LẠI

Chủ nhật - 25/03/2018 20:53 40 0
Vừa qua, Viện KSND tỉnh Đồng Nai ban hành Thông báo rút kinh nghiệm vụ án: “Ly hôn, chia tài sản chung vợ chồng” do bản án sơ thẩm có nhiều sai sót, nhận định về đường lối giải quyết vụ án không đảm bảo tính khách quan của chứng cứ thể hiện tại hồ sơ, gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của

​ 1. Tóm tắt nội dung vụ án: -Về quan hệ hôn nhân: Bà Đ.T.T và ông H.P.Đ tự nguyện chung sống, có đăng ký kết hôn vào năm 1982. Quá trình chung sống hạnh phúc có với nhau được 04 người con chung hiện nay các cháu đều trưởng thành, sau đó vợ, chồng phát sinh mâu thuẩn trầm trọng, đã sống ly thân hơn 05 năm nay. Bà T yêu cầu xin ly hôn, ông Đ cũng đồng ý. -Về tài sản chung: Theo bà T khai quá trình chung sống, vợ chồng ông bà có rất nhiều tài sản chung gồm 72 thửa đất tổng diện tích 113.429, 3 m 2 tọa lạc tại huyện Long Thành và trong thời kỳ chung sống với ông Đ, bà với ông Đ có thỏa thuận chuyển nhượng cho ông N và bà H ở Bà Rịa – Vũng Tàu diện tích đất khoảng 06 ha với giá chuyển nhượng là 550.000đ/m 2 , tổng giá trị chuyển nhượng là 21.940.050.000đ, ông Đ có đưa cho bà 3.200.000.000đ, số tiền còn lại ông Đ quản lý và sử dụng. Bà T xác định tất cả các tài sản này là tài sản chung vợ chồng và đề nghị Tòa án chia cho bà một nửa khối tài sản kể cả số tiền bán đất cho ông N, bà H còn lại sau khi trừ 3.200.000.000đ ông Đ đã đưa cho bà. Phía ông Đ xác định tất cả các tài sản trên là di sản của cha mẹ ông để lại nên thuộc tài sản riêng của ông, không phải tài sản chung vợ chồng nên bà T yêu cầu chia tài sản chung vợ chồng là không đúng và ông không đồng ý. Đối với việc bà T đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là do quy định của nhà nước chứ ông không làm bất cứ văn bản nào sát nhập các tài sản này vào tài sản chung vợ chồng. Đối với số tiền bán đất cho ông N và bà H, lúc đó ông bán giá là 21.940.050.000đ, ông có đưa cho bà 3.200.000.000đ, số tiền còn lại ông quản lý và sử dụng, ông không chia tiền cho bà T mà lúc đó ông cho bà T 3.200.000.000đ. Bà T yêu cầu chia số tiền bán đất này ông không đồng ý vì đây là số tiền bán tài sản riêng của ông. -Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. 2. Kết quả giải quyết của Tòa án: -Bản án sơ thẩm của TAND huyện Long Thành đã chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà T: Về quan hệ hôn nhân giải quyết cho bà T được ly hôn với ông Đ. Đồng thời, nhận định toàn bộ tài sản đang tranh chấp nêu trên là tài sản chung của vợ, chồng ông Đ, bà T chia đôi khối tài sản. Gồm: Tổng diện tích đất bà T được chia là 56.143,3m 2 có giá trị là 32.610.791.000đ Tổng diện tích đất ông Đ được chia là 57.286m 2 có giá trị là 34.114.560.000đ. Đồng thời, buộc ông Đ phải có trách nhiệm thanh toán cho bà T số tiền 7.770.025.000đ là một nửa số tiền đã chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông N và bà H. *Vụ án được Viện trưởng VKSND huyện Long Thành kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm. Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai đã xét xử phúc thẩm: Hủy một phần bản án sơ thẩm về giải quyết tranh chấp chia tài sản chung giữa bà T và ông Đ. Chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành do Tòa cấp sơ thẩm bỏ sót tư cách tham gia tố tụng của đương sự. 3. Vấn đề rút kinh nghiệm: -Về tư cách đương sự: Ông Đ khai và bà T thừa nhận, quyền sử dụng đất bà T yêu cầu chia có nguồn gốc là di sản của cha, mẹ ông Đ để lại. Theo di chúc do cha và mẹ ông Đ lập, cùng với việc hưởng di sản là nhà ở và quyền sử dụng đất, ông Đ phải có trách nhiệm nuôi dưỡng, chăm sóc chị gái là bà Th cho đến hết đời và ông Đ có nghĩa vụ chăm lo mồ mã, cúng giỗ tổ tiên, ông bà, cha mẹ. Như vậy, việc giải quyết tranh chấp tài sản này có liên quan đến quyền lợi của bà Th, Tòa án cấp sơ thẩm không đưa bà Th vào tham gia tố tụng là bỏ sót tư cách đương sự, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà Th; -Về quyền sử dụng đất tranh chấp: Sau khi thừa kế quyền sử dụng đối với diện tích đất tranh chấp, ông Đ kê khai và năm 2002 được Nhà nước cấp giấy chứng nhận QSD do một mình ông Đ đứng tên. Năm 2006, thực hiện chủ trương chung của Nhà nước, ông Đ làm thủ tục xin cấp đổi giấy chứng nhận QSD đất mới. Năm 2007, Nhà nước cấp giấy chứng nhận QSD mới cho ông Đ, bà T đứng tên. Ông Đ cho rằng, việc ông đồng ý ghi tên bà T vào giấy chứng nhận QSD đất mới là do cán bộ làm thủ tục yêu cầu, bản thân ông không có ý định đưa QSD đất này thành tài sản chung của ông và bà T. Hồ sơ xin cấp đổi giấy chứng nhận QSD đất có 01 đơn xin bổ sung tên bà T nhưng không đề ngày, tháng, không ghi rõ các thửa đất xin cấp đổi nhưng Tòa cấp sơ thẩm chưa làm rõ có đúng là khi xin cấp đổi, ông Đ tự nguyện đề nghị ghi tên bà T vào giấy chứng nhận QSD đất và đưa QSD đất vào làm tài sản chung của vợ, chồng hay không? Trường hợp ông Đ tự nguyện đưa QSD đất vào làm tài sản chung của ông với bà T thì có ảnh hưởng tới quyền và lợi ích hợp pháp của bà Th hay không? Ngoài việc xem xét quyền và lợi ích hợp pháp của bà Th, về nguồn gốc tài sản và nghĩa vụ do thừa hưởng tài sản mà ông Đ phải thực hiện với gia đình và chị gái của mình, lẽ ra Tòa cấp sơ thẩm cần cân nhắc phân chia tài sản cho ông Đ được hưởng phần nhiều hơn (trong trường hợp ông Đ tự nguyện nhập vào tài sản chung) mới hợp tình, lý nhưng Tòa cấp sơ thẩm xác định QSD đất tranh chấp nêu trên là tài sản chung để giải quyết chia đôi tài sản là chưa khách quan, đánh giá chứng cứ chưa đầy đủ, gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông Đ. Để nâng cao chất lượng, hiệu quả của công tác kháng nghị phúc thẩm các vụ, việc dân sự, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai đã ra thông báo để các đơn vị nghiên cứu, cùng học tập rút kinh nghiệm chung./. La Minh Dũng – Phòng 9

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

218/QĐ-VKS

Báo cáo công khai số liệu và thuyết minh tình hình thực hiện dự toán ngân sách nhà nước 9 tháng năm 2026 của VKSND hai cấp thành phố Đồng Nai

lượt xem: 30 | lượt tải:11

219/QĐ-VKS

BC công khai số liệu và thuyết minh tình hình thực hiện dự toán ngân sách nhà nước 9 tháng năm 2026 của VP VKSND thành phố Đồng Nai

lượt xem: 33 | lượt tải:13

215/QĐ-VKS

QĐ phê duyệt kết quả lựa chọn nhà thầu của gói gia hạn phần mềm bản quyền tường lửa năm 2026

lượt xem: 49 | lượt tải:20

202/QĐ-VKS

QĐ về việc phê duyệt kế hoạch lựa chọn nhà thầu, dự án,dự toán mua sắm Gói gia hạn phần mềm tường lửa sophos năm 2026 cho VKSND thành phố Đồng Nai

lượt xem: 43 | lượt tải:35

200/QĐ-VKS

QĐ về việc công bố công khai số liệu tiết kiệm dự toán chi thường xuyên năm 2026 của Văn phòng VKSND thành phố Đồng Nai

lượt xem: 48 | lượt tải:43
lgo vkstoi cao
banner kiemsat2vks1
tvpl
công khai tài chính
Thi tìm hiểu pháp luật
bvpl
TB Trụ sở
Nghị quyết 205
Công khai tài chính
Chithi06
Thống kê truy cập
  • Đang truy cập113
  • Máy chủ tìm kiếm7
  • Khách viếng thăm106
  • Hôm nay6,792
  • Tháng hiện tại242,368
  • Tổng lượt truy cập20,380,393
Pháp điển
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây