1.Tóm tắt nội dung vụ án: Theo nguyên đơn bà Lê Thị D trình bày: Năm 1986, gia đình bà D chuyển đến xã Phú Lập, huyện Tân Phú sinh sống và có nhận chuyển nhượng diện tích đất của ông X (hiện không biết địa chỉ của ông X) . Khi nhận sang nhượng, hai bên không đo đạc nhưng có tiến hành chỉ ranh mốc đất với nhau. Đất bà D mua của X lúc đó giáp ranh đất ông Bảy, đất ông Nghĩa, đất ông Bút và con đường đi nhỏ. Sau khi chuyển đến, gia đình bà Diện sử dụng con đường mà ông X trước đây vẫn sử dụng để phục vụ sinh hoạt và canh tác (đường đi qua phần đất của ông Bút nối từ đường be 12 vào trong rẫy). Con đường này có từ khi nào thì bà D không biết nhưng kể từ khi gia đình bà đến ở, gia đình bà cùng với gia đình ông Bút sử dụng con đường này. Đến năm 1992, ông Bút sang nhượng đất lại cho ông Q, thì ông Q và gia đình bà tiếp tục sử dụng cho đến tháng 10/1996, ông Q chuyển nhượng toàn bộ diện tích đất rẫy khoảng 5.800m 2 lại cho gia đình bà D thì từ năm 1996 cho đến nay chỉ có gia đình bà D sử dụng và tôn tạo con đường này. Năm 1995, bà D có viết đơn kê khai đăng ký xin cấp giấy chứng nhận QSD đất và được UBND huyện Tân Phú cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho gia đình bà D vào năm 1997 với bốn thửa có tổng diện tích được sử dụng là 24.234m 2 , trong đó có thửa 641 tờ số 4 có diện tích 11.047m 2 (bao gồm 300m 2 đất thổ cư) . Đối với diện tích đất mua lại của ông Q vào cuối năm 1996 thì gia đình bà chưa kê khai đăng ký nên chưa được cấp giấy chứng nhận QSD đất, tuy nhiên đã được thể hiện trên bản đồ địa chính tại thửa 686 tờ số 04 với diện tích là 5.702m 2 thửa này liền kề với thửa 641 mà bà D đang sử dụng . Năm 2001, nhà nước tiếp tục tiến hành đo đạc, biên vẽ lại bản đồ địa chính. Trên cơ sở hiện trạng thực tế đất đang sử dụng, bà D có xin cấp đổi giấy chứng nhận QSDĐ năm 1997 và kê khai đăng ký xin cấp mới quyền sử dụng đất đối với thửa 686 tờ bản đồ số 4 cùng với diện tích đường đi mà gia đình bà đã sử dụng ổn định không có ai tranh chấp từ trước tới nay. Năm 2004, UBND huyện Tân Phú đã cấp giấy chứng nhận QSDĐ cho bà Lê Thị D và ông Nguyễn Sỹ T được quyền sử dụng diện tích đất 17.611m 2 tại hai thửa 219 và 236 tờ số 14, trong đó: thửa 219 diện tích 16.720m 2 (bao gồm diện tích mà gia đình bà sử dụng làm đường đi từ đường be 12 vào rẫy); thửa 236 diện tích 891m 2 tất cả thuộc tờ số 14 bản đồ địa chính xã Phú Lập được thành lập năm 2003. Hiện tại, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của gia đình bà D đang thế chấp tại Ngân hàng NN&PTNT chi nhánh huyện Tân Phú – Phòng giao dịch xã Phú Lập. Trong quá trình sử dụng, khoảng năm 1998 – 1999, gia đình bà D có tiến hành đổ một xe đất đỏ để cải tạo con đường đi lại cho thuận tiện. Đến tháng 09/2011, gia đình ông C ngang nhiên trồng cây cà phê, cao su trên phần đất mà gia đình bà đang sử dụng đi lại, sinh hoạt và được nhà nước cấp giấy chứng nhận QSD đất vào năm 2004. Vì vậy, bà đã làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc gia đình ông C trả lại cho bà D tích đất đã lấn chiếm là 132,3m 2 Đối với yêu cầu của ông C, bà L đòi gia đình bà D phải bồi thường số cây cao su trồng trên diện tích đất 132.3m 2 thì bà D không đồng ý vì ông C tự ý trồng cây diện tích đất mà nhà nước đã cấp QSD đất cho gia đình bà. Theo bị đơn ông Nguyễn Văn C trình bày: Vào khoảng tháng 04/1995, ông C có nhận sang nhượng đất của ông Võ Văn Ựng hai thửa với diện tích 5.553m 2 , cụ thể: Thửa 955 diện tích 2.447m 2 và thửa 974 diện tích 3.106m 2 , hai thửa này được ngăn cách bởi đường be 12. Thực tế, hai thửa đất này, ông Ựng mua cho con gái là Võ Thị T sử dụng. Bản thân ông C trực tiếp có đến Ủy ban nhân dân huyện Tân Phú để xem số thửa, bản đồ sau đó giữa ông C và ông Ựng có viết tay thể hiện việc sang nhượng đất và được UBND xã xác nhận phần đất của ông Ựng đã sang lại cho ông C sử dụng. Tuy nhiên, chị T là người đứng ra sang nhượng hai thửa đất này cho ông C với giá là 05 chỉ vàng. Khi nhận đất không đo đạc thực tế diện tích đất bao nhiêu nhưng có tiến hành chỉ ranh mốc đối với hai thửa đất này. Gia đình ông C có làm nhà ở trên thửa 974, còn thửa 955 thì sử dụng canh tác, trồng trọt. Sau khi nhận đất, ông C có làm thủ tục thế chấp diện tích đất này để vay vốn tại Ngân hàng NN&PTNT huyện Tân Phú nhưng vì đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên theo sự hướng dẫn của Ngân hàng, ông Còn có nhờ UBND xã xác nhận vào biên vẽ hai thửa đất 955 và 974 (biên vẽ hai thửa đất này do cán bộ địa chính xã thực hiện) để làm cơ sở thế chấp vay vốn Ngân hàng đồng thời, UBND huyện cũng căn cứ vào biên vẽ hai thửa đất này để cấp quyết định giao đất tạm thời số 686/QĐ.UBH ngày 25/11/1996 cho ông Còn tại hai thửa 955 và 974 với tổng diện tích là 5.553m 2 . Năm 1997, gia đình ông C được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên cơ sở Quyết định cấp đất tạm thời số 686/QĐ.UBH ngày 25/11/1996 với diện tích được sử dụng là 5.553m 2 tại hai thửa 698, 753 tờ số 04 bản đồ địa chính xã Phú Lập năm 1996, trong đó: thửa 753 diện tích 3.106m 2 và thửa 698 có diện tích 2.447m 2 nhưng hai thửa đất không liền nhau mà được ngăn cách bởi đường be 12. Đối với thửa 699 không ghi trong giấy chứng nhận QSD đất cấp cho ông Còn nhưng thực tế ông C vẫn sử dụng, thửa này không có ghi diện tích do tách ra từ thửa 955 trước đây. Sau khi nhận giấy chứng nhận QSDĐ thì Ngân hàng thu giữ luôn giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của gia đình ông cho đến nay. Năm 1996, gia đình bà D có hỏi gia đình ông C mua lại 02m chiều ngang dọc theo ranh đất thửa 698 để làm đường đi vào rẫy nhà bà D nhưng gia đình ông C không bán mà chỉ cho đi nhờ, việc cho bà D đi nhờ chỉ trao đổi miệng với nhau và không có ai chứng kiến. Diện tích đất bà D đi nhờ này bắt đầu từ đường be 12 dọc theo ranh đất các thửa vào đến đất bà D: Một bên giáp đất ông Y, một bên giáp đất của ông C và đất của ông L. Đến năm 2011, gia đình bà D đã có đường đi khác nên ông C rào lại không cho gia đình bà D tiếp tục sử dụng nữa và tiến hành trồng cây cao su, cà phê trên diện tích đất này thì gia đình bà D ngăn cản với lý do diện tích đất này UBND huyện Tân Phú đã cấp quyền sử dụng trong giấy chứng nhận quuyền sử dụng đất cho gia đình Bà D vào năm 2004. Vì vậy, bà D khởi kiện ông C đến Tòa án yêu cầu giải quyết buộc gia đình ông C phải trả lại diện tích đất này thì gia đình ông C không chấp nhận vì phần diện tích đất này gia đình ông C đã được nhà nước giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào năm 1997 . Sau này nhà nước tiến hành đo đạc và biên vẽ lại bản đồ địa chính vào thời điểm nào thì ông C không rõ nhưng UBND xã có thông báo cho các hộ dân đến làm thủ tục cấp đổi và cấp mới giấy chứng nhận QSDĐ thì ngày 04/11/2002 ông Ccó đến làm đơn xin đăng ký QSD đất để xin cấp đổi giấy chứng nhận QSD đất đối với hai thửa đất nêu trên. Hiện tại giấy chứng nhận QSD đất mới mà UBND huyện Tân Phú đã cấp cho gia đình ông C đang lưu giữ tại UBND xã Phú Lập. Theo giấy chứng nhận QSD đất cấp đổi cho ông C thì diện tích đất tại thửa 753 tờ số 4 bản đồ năm 1996 được đổi thành thửa 18 diện tích 2.958m 2 ; diện tích đất tại thửa 698 tờ số 04 bản đồ địa chính năm 1996 được đổi thành thửa số 06 diện tích là 2.605m 2 tất cả thuộc tờ số 20 xã Phú Lập thành lập năm 2001. Trên diện tích đất này, ông C có trồng một số cây cao su. Nay ông yêu gia đình bà D phải bồi thường trị giá những cây cao su này. Về việc Xem xét – Thẩm định và định giá lại tài sản tranh chấp, ông C không yêu cầu thực hiện lại mà đồng ý với kết quả Xem xét – Thẩm định tại chỗ và kết quả định giá mà Hội đồng định giá huyện Tân Phú đã định giá trước đây để làm căn cứ xem xét giải quyết. 2. Kết quả giải quyết của Tòa án: Bản án dân sự sơ thẩm số 0 3/2016/DS-ST ngày 19-7-2016 của TAND huyện Tân Phú tuyên xử: -Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị D: Buộc ông Nguyễn Văn C, bà Phan Thị L phải trả lại cho bà Lê Thị D và anh Nguyễn Văn B, anh Nguyễn Lương H, anh Nguyễn Toàn K , chị Nguyễn Thị Thu N , anh Nguyễn Toàn P, anh Nguyễn Bảo Q, chị Nguyễn Thị Thu H và anh Nguyễn Quang M quyền sử dụng diện tích đất 132,3 m 2 được giới hạn bởi các mốc “1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 1” theo Trích lục và đo tách thửa đất bản đồ địa chính số 166/2013 ngày 05/02/2013 của Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất tỉnh Đồng Nai – Chi nhánh Tân Phú . -Không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông C (Bà D không phải bồi thường thiệt hại 06 cây cao su trồng trên đất tranh chấp). 3. Vấn đề rút kinh nghiệm: -Về quan hệ pháp luật: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả lại diện tích đất 132,3 m 2 đã được UBND huyện Tân Phú công nhận quyền sử dụng; Ngày 15/10/2014 phía bị đơn có yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho gia đình bà Lê Thị D, ngày 08/6/2016 bị đơn phản tố yêu cầu nguyên đơn bồi thường thiệt hại về tài sản. Như vậy, quan hệ pháp luật cần giải quyết là: “ Tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu hủy quyết định hành chính cá biệt và yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại tài sản” nhưng Tòa cấp sơ thẩm chỉ xác định quan hệ pháp luật để giải quyết: “Tranh chấp quyền sử dụng đất” là thiếu sót. -Về người tham gia tố tụng: Diện tích đất 132, 2 m 2 tại thửa số 219, tờ bản đồ số 14, xã Phú Lập, huyện Tân Phú, Đồng Nai hiện do gia đình bị đơn quản lý, sử dụng; Theo hồ sơ, gia đình bị đơn đăng ký hộ khẩu thường trú có 04 nhân khẩu gồm: Vợ, chồng ông C, bà L và 02 người con là Nguyễn Cao N, sinh năm 1989 và Nguyễn Thị Ngọc D, sinh năm 1992 nhưng cấp sơ thẩm không đưa những người con của vợ, chồng ông C, bà L vào tham gia tố tụng là bỏ sót và khó có khả năng thi hành án. Ngày 15/10/2014, ông C, bà L nộp đơn yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho gia đình bà Lê Thị D nhưng đến ngày 31/7/2015, TAND huyện Tân Phú mới ban hành thông báo số 136/2015/TB-TA cho UBND huyện Tân Phú là vi phạm thời hạn thông báo theo quy định tại Điều 9 Thông tư liên tịch số 01/2014. Đồng thời, cấp sơ thâm không đưa UBND huyện Tân Phú vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bỏ sót người tham gia tố tụng. Ngoài ra, nguyên đơn, bị đơn đều thừa nhận giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của cả 02 bên hiện đang thế chấp tại ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam (chi nhánh huyện Tân Phú). Trong trường hợp này, cần phải đưa ngân hàng vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan dù ngân hàng có yêu cầu độc lập với nguyên đơn, bị đơn hay không. Cấp sơ thẩm không đưa ngân hàng vào tham gia tố tụng là bỏ sót tư cách tham gia tố tụng của đương sự, vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng. Vi phạm trên, lẽ ra Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phải phát hiện để báo cáo Lãnh đạo quyết định kháng nghị nhằm đảm bảo việc giải quyết của Tòa án đúng pháp luật. Từ vụ án trên, để nhận diện được các vi phạm tương tự, nhằm nâng cao công tác kiểm sát giải quyết các vụ án dân sự, thực hiện tốt Chỉ thị số 04/CT-VKSTC-VPT1 ngày 17/5/2012 của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao “Về tăng cường công tác kháng nghị phúc thẩm dân sự” . Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai ra thông báo để cùng rút kinh nghiệm chung./. Nguyễn Thị Diến – Phòng 9.
Ý kiến bạn đọc