3. Giai đoạn từ 2002 đến nay Đây là thời kỳ đổi mới mạnh mẽ về tổ chức và hoạt động của ngành Kiểm sát nhân dân. Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi) và Luật tổ chức Viện KSND năm 2002 qui định chức năng nhiệm vụ của ngành có thay đổi, ngành Kiểm sát thôi làm nhiệm vụ kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong lĩnh vực hành chính, kinh tế - xã hội, tập trung làm nhiệm vụ THQCT và kiểm sát các hoạt động tư pháp; thực hiện cải cách tư pháp theo Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới và Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020. Nhiệm vụ trọng tâm của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh trong giai đoạn này là: Đổi mới tổ chức và hoạt động, thực hiện đầy đủ trách nhiệm trong thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp, chủ động phối hợp với các cơ quan tư pháp đấu tranh có hiệu quả các loại tội phạm xảy ra trên địa bàn tỉnh; bảo đảm việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, tạm giữ, tạm giam và giáo dục người chấp hành án phạt tù đúng pháp luật; không làm oan người vô tội, không bỏ lọt tội phạm; tăng cường công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ, việc DS-HNGĐ, LĐ, HC, KDTM và những việc khác theo quy định của pháp luật; nâng cao chất lượng công tác thi hành án; giải quyết kịp thời đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân, không để tồn đọng, bức xúc kéo dài, khiếu kiện đông người”. Công tác THQCT và kiểm sát hoạt động tư pháp trong lĩnh vực hình sự : - Từ năm 2002 đến năm 2009 thụ lý kiểm sát điều tra 21.721 vụ /36.399 bị can. Đã giải quyết 21.268 vụ /35.687 bị can (tỷ lệ 97,9%). Đã kiểm sát xét xử sơ thẩm 20.287 vụ/33.732, xét xử phúc thẩm 2784 vụ/3721 bị cáo, phối hợp các ngành Công an, Tòa án xác định 553 vụ án điểm, đưa ra xét xử lưu động, 104 vụ án theo thủ tục rút gọn, phối hợp với Tòa án chọn trên 100 vụ án tổ chức phiên tòa xét xử theo tinh thần cải cách tư pháp. - T ừ năm 2010 đến 30/5/201 6 kiểm sát t hụ lý hơn 22.260 tin báo tố giác tội phạm, đã giải quyết trên 19.250, đạt tỷ lệ 86,44%. Thụ lý kiểm sát điều tra 16.426 vụ án/29.416 bị can, đã giải quyết 14.905 vụ/26.327 bị can (tỷ lệ 90,7%). Thụ lý kiểm sát xét xử 16.306 vụ án/29.067 bị cáo. Kết quả xét xử 14.713 vụ/26.233 bị cáo, đạt tỷ lệ 90,23%. Phối hợp Cơ quan điều tra, Tòa án xét xử theo thủ tục rút gọn 68 vụ án, chọn 720 vụ án điểm, xét xử lưu động 1.646 vụ án, tổ chức phiên tòa xét xử theo tinh thần cải cách tư pháp 540 vụ. - Viện kiểm sát 2 cấp đã chủ động phối hợp xây dựng quy chế liên ngành tố tụng trong công tác phối hợp đấu tranh, phòng chống tội phạm; Quy chế phối hợp trong việc tiếp nhận và giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm; Qui chế phối hợp với Mặt trận tổ quốc….v.v. Công tác kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự tiếp tục được tăng cường và có nhiều chuyển biết tích cực, đã tiến hành kiểm sát trực tiếp nhà tạm giữ, trại tạm giam 1.268 l ượt . Qua kiểm sát đã ban hành 62 kháng nghị và hàng trăm kiến nghị các ngành hữu quan khắc phục thiếu sót, vi phạm đưa công tác này vào nề nếp. Ngoài ra, t ham gia xét duyệt giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù cho gần 33.200 phạm nhân, đặc xá cho 1.352 phạm nhân, xét miễn chấp hành hình phạt cho 195 phạm nhân. Công tác kiểm sát giải quyết các vụ, việc dân sự, hôn nhân gia đình, hành chính, lao động và kinh doanh thương mại có nhiều thay đổi quan trọng nhất là sau khi Bộ luật Tố tụng dân sự có hiệu lực thi hành từ năm 2005 và Luật Tố tụng hành chính năm 2010 đến nay, Viện kiểm sát 2 cấp tập trung thực hiện kiểm sát thông báo thụ lý, bản án, quyết định giải quyết của Tòa án và tham gia các phiên tòa, phiên họp theo quy định của pháp luật. Nâng cao chất lượng kháng nghị, kiến nghị trong lĩnh vực này là một trong các nhiệm vụ trọng tâm, khâu đột phá trong công tác chuyên môn của toàn ngành Kiểm sát Đồng Nai nên đã chủ động tích cực đề ra nhiều biện pháp, giải pháp nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác này; đã kiểm sát thụ lý 185.477 vụ việc; tham gia phiên tòa, phiên họp 23.382 vụ việc. Qua kiểm sát đã ban hành 628 kháng nghị; Tòa án đã xét xử và chấp nhận trên 95%; ban hành 892 văn bản kiến nghị yêu cầu Tòa án khắc phục vi phạm trong việc thụ lý, giải quyết loại việc này. Công tác kiểm sát thi hành án dân sự đã đi vào nề nếp, chất lượng, hiệu quả được nâng lên, nhiều vụ án tồn đọng, kéo dài đã được giải quyết dứt điểm. Định kỳ hàng năm có mời đại diện Ban pháp chế HĐND, Mặt trận tổ quốc tham gia kiểm sát trực tiếp, toàn diện Cơ quan thi hành án dân sự; kiểm sát trực tiếp hoặc yêu cầu UBND cấp xã, phường tự kiểm tra báo cáo trong thi hành án dân sự dưới 500 ngàn đồng. Qua kiểm sát đã ban hành nhiều văn bản kiến nghị, kháng nghị đối với cơ quan Thi hành án và các cơ quan hữu quan khắc phục thiếu sót vi phạm. Công tác tiếp công dân, giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền, trách nhiệm của ngành được quan tâm và chú trọng. Đã tiếp hàng ngàn lượt công dân đến khiếu nại, tố cáo; tiếp nhận hơn 13.850 đơn, trong đó có 3.310 đơn thuộc thẩm quyền trách nhiệm giải quyết của Viện kiểm sát, kết quả giải quyết đạt trên 97%, số còn lại chuyển đơn và theo dõi các cơ quan có thẩm quyền giải quyết; hàng tuần Lãnh đạo Viện kiểm sát 2 cấp đều trực tiếp tiếp công dân, đã ban hành nhiều kiến nghị yêu cầu cơ quan chức năng khắc phục vi phạm trong lĩnh vực này. Công tác xây dựng ngành: Viện kiểm sát nhân dân tỉnh được bổ sung số lượng biên chế lớn. Tổ chức, bộ máy được sắp xếp lại cho phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ mới; Viện kiểm sát tỉnh có 13 phòng, Viện kiểm sát cấp huyện có 03 bộ phận. Mỗi cấp kiểm sát đều được tăng cường cán bộ lãnh đạo, quản lý. Trong tổ chức bộ máy, xây dựng ngành Kiểm sát đã có nhiều đổi mới như: Việc tuyển chọn công chức phải qua thi tuyển; tuyển chọn và bổ nhiệm Kiểm sát viên phải thông qua Hội đồng tuyển chọn; quy định tất cả Kiểm sát viên phải có bằng cử nhân Luật, trình độ ngoại ngữ, tin học và bổ nhiệm có thời hạn. Đã quan tâm chú trọng đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ, lý luận chính trị và các kiến thức bổ trợ khác cho cán bộ, Kiểm sát viên, vì vậy chất lượng đội ngũ cán bộ có chuyển biến mạnh mẽ. Công tác tuyển chọn bổ nhiệm Kiểm sát viên và quản lý đánh giá cán bộ hàng năm đã đi dần vào nề nếp. Công tác quy hoạch, đề bạt, bổ nhiệm cán bộ lãnh đạo và sắp xếp bố trí, luân chuyển cán bộ được thực hiện công khai, dân chủ, đúng qui trình đã tạo được động lực mới trong công tác cán bộ. Cơ sở vật chất cho ngành Kiểm sát được quan tâm và tăng cường nhất là từ sau khi có Nghị quyết 08-NQ/TW, Nghị quyết 49-NQ/TW và Chỉ thị của Tỉnh ủy về chiến lược cải cách tư pháp và tăng cường cơ sở vật chất cho các cơ quan tư pháp. Hiện nay trụ sở làm việc của Viện kiểm sát tỉnh, Viện kiểm sát các huyện, Thị xã Long Khánh và TP Biên Hòa đã được xây dựng khang trang; phương tiện và trang thiết bị làm việc được trang bị tương đối đầy đủ. Công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành: Ban cán sự, Ban lãnh đạo ngành Kiểm sát đã thường xuyên chăm lo công tác giáo dục chính trị tư tưởng, động viên cán bộ Kiểm sát viên gương mẫu chấp hành đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, các quy định, quy chế của ngành, xây dựng người cán bộ Kiểm sát theo 5 điều Bác Hồ dạy: “Công minh, Chính trực, Khách quan, Thận trọng, Khiêm tốn” ; tổ chức triển khai thực hiện cuộc vận động xây dựng đội ngũ cán bộ Kiểm sát: “Vững về chính trị, giỏi về nghiệp vụ, tinh thông về pháp luật, công tâm và bản lĩnh, kỷ cương và trách nhiệm” , ra sức rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng, không tham nhũng tiêu cực, không vi phạm những điều đảng viên, Kiểm sát viên không được làm. Tập trung chú trọng các biện pháp, giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác chuyên môn nghiệp vụ; thực hiện cải cách hành chính và đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong toàn ngành, đã trang bị máy vi tính cho trên 90% cán bộ, Kiểm sát viên trong toàn ngành; thành lập trang WEB của ngành, sử dụng văn phòng điện tử (IOFFICE) trong toàn ngành, hệ thống mạng LAN được kết nối hoàn chỉnh giữa các phòng nghiệp vụ Viện tỉnh, tạo lập cơ sở dữ liệu về thống kê tội phạm, sổ thụ lý, quản lý án hình sự điện tử, chuẩn hóa hệ thống biểu mẫu...; xây dựng và công khai các quy trình nghiệp vụ nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho công dân giám sát hoạt động của ngành theo quy định của pháp luật. Bốn mươi năm qua, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai đã quán triệt sâu sắc các Nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nước, chỉ đạo của ngành, vận dụng một cách nghiêm túc vào thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao, góp phần đem lại hiệu quả chung của toàn ngành. Điều này được minh chứng bằng những thành quả đã đạt được và được Đảng, Nhà nước, ngành Kiểm sát ghi nhận, khen thưởng với thành tích xứng đáng: - Năm 1995, Viện KSND tỉnh Đồng Nai vinh dự được tặng thưởng Huân chương lao động Hạng Hai; - Năm 2011 được tặng cờ thi đua của Chính phủ; - Năm 2012 được Thủ tướng tặng Bằng khen; - Liên tục nhiều năm được tặng Cờ thi đua ngành Kiểm sát (1987, 1988, 1995, 2009, 2010, 2012, 2014), những năm còn lại đều được Viện KSND Tối cao tặng Bằng khen đơn vị thi đua xuất sắc. - Các đơn vị trực thuộc được tặng thưởng Huân chương Lao động Hạng 3: Phòng Kiểm sát điều tra án Trị an, An ninh (1999), Phòng Kiểm sát án dân sự (2005); Viện kiểm sát các huyện: Long Đất (1990), TP.Biên Hòa (1995), Thống Nhất (nay là Trảng Bom 02 lần 1998, 2010), Thị xã Long Khánh và Định Quán (2003); Long Thành được tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Ba năm 1999, hạng Hai năm 2007 và Hạng Nhất 2015. - Các cá nhân được tặng thưởng Huân chương Lao động Hạng 2 có 01 đ/c, Huân chương lao động hạng 5 có 07 đ/c, Bằng khen của Thủ Tướng Chính Phủ có 09 đ/c, có nhiều đ/c cán bộ, Kiểm sát viên nhiều năm liên tục là Chiến sỹ thi đua cơ sở và Chiến Sỹ thi đua ngành được Viện trưởng VKSND tối cao và Chủ tịch UBND tỉnh tặng Bằng khen. Những kết quả đạt được của ngành Kiểm sát Đồng Nai trong 40 năm qua là do có sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo sâu sát của Viện KSND Tối cao, của Tỉnh ủy, HĐND và sự quan tâm hỗ trợ tích cực của UBND tỉnh, các cấp ủy đảng, chính quyền địa phương, Ủy ban MTTQ tỉnh, các tổ chức trong hệ thống chính trị, các báo đại và phương tiện thông tin đại chúng... đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho ngành Kiểm sát Đồng Nai hoạt động; đặc biệt là công lao đóng góp to lớn của các đồng chí cán bộ lão thành cách mạng, các thế hệ cán bộ, Kiểm sát viên đã đoàn kết nhất trí chung tay góp sức xây dựng ngành Kiểm sát Đổng Nai phát triển và không ngừng lớn mạnh. Đó là kết quả của một quá trình phấn đấu gian khổ, nhưng rất đỗi tự hào của các thế hệ cán bộ, kiểm sát viên, từ những ngày đầu giải phóng đến nay, là nguồn động viên cổ vũ lớn lao để chúng ta thêm tự tin, phấn đấu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong giai đoạn mới. Thực tiễn 40 năm xây dựng và trưởng thành, Viện KSND tỉnh Đồng Nai rút ra một số bài học kinh nghiệm như sau: Một là , quá trình xây dựng và trưởng thành của ngành Kiểm sát nhân dân nói chung và ngành Kiểm sát Đồng Nai nói riêng luôn xác định chức năng, nhiệm vụ của ngành là bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa và phục vụ nhiệm vụ chính trị của Đảng và Nhà nước. Do đó từ khi thành lập cho đến nay ngành Kiểm sát phải luôn bám sát các nhiệm vụ chính trị của cách mạng để xác định nhiệm vụ trọng tâm của ngành trong từng giai đoạn, quán triệt đầy đủ các Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng, của Quốc hội và nhiệm vụ kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội của nhà nước. Từ đó đề ra các nhiệm vụ công tác trọng tâm của ngành trên cơ sở chức năng nhiệm vụ theo luật định. Hai là, phải luôn chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ có bản lĩnh chính trị vững vàng, có phẩm chất đạo đức tốt, có trình độ, năng lực nghiệp vụ, dũng cảm đấu tranh bảo vệ công lý, có ý thức tổ chức kỷ luật, có tinh thần trách nhiệm và lương tâm nghề nghiệp. Thực tiễn đã khẳng định, công tác cán bộ luôn luôn giữ vị trí quan trọng trong quá trình xây dựng và phát triển của ngành. Vì vậy xây dựng đội ngũ cán bộ kiểm sát có bản lĩnh chính trị vững vàng, tinh thông về nghiệp vụ, trong sáng về phẩm chất đạo đức, có ý thức tổ chức kỷ luật, có tinh thần trch nhiệm và lương tâm nghề nghiệp là yếu tố quyết định thành công của hoạt động kiểm sát. Trong giai đoạn hiện nay, trước yêu cầu mới của cải cách tư pháp, ngành Kiểm sát phải tiếp tục giáo dục rèn luyện đội ngũ cán bộ kiểm sát theo 5 đức tính mà Bác Hồ đã dạy: “ Công minh, Chính trực, Khách quan, Thận trọng, Khiêm tốn” ; Tiếp tục đẩy mạnh cuộc vận động xây dựng đội ngũ cán bộ kiểm sát: “ Vững về chính trị, giỏi về nghiệp vụ, tinh thông về pháp luật, công tâm và bản lĩnh, kỷ cương và trách nhiệm ” . Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, gắn công tác đánh giá, quy hoạch với công tác luân chuyển cán bộ theo tinh thần đổi mới; tăng cường công tác quản lý, giáo dục và rèn luyện cán bộ; xử lý kịp thời, nghiêm minh những cán bộ có sai phạm. Tiếp tục kiện tồn, củng cố tổ chức bộ máy cho phù hợp với yêu cầu tình hình nhiệm vụ mới, hòan thiện cơ chế quản lý, chỉ đạo, điều hành. Ba là, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với ngành Kiểm sát là nhân tố quyết định hiệu quả hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân. Để xây dựng ngành Kiểm sát thật sự trong sạch, vững mạnh, phát huy hiệu quả hoạt động, ngành Kiểm sát phải thường xuyên tranh thủ sự lnh đạo toàn diện của Cấp ủy Đảng các cấp, quán triệt đầy đủ các Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng để xác định nhiệm vụ chính trị trong từng giai đoạn cách mạng; đổi mới mạnh mẽ về tổ chức và hoạt động; không ngừng cũng cố, kiện toàn và nâng cao hiệu quả hoạt động của Ban cán sự Đảng, xây dựng tổ chức cơ sở Đảng và tổ chức đoàn thể trong ngành thật sự trong sạch vững mạnh. Bốn là , để thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ theo quy định của pháp luật, Viện kiểm sát phải chủ động phối hợp với các cơ quan nhà nước, trước hết là các cơ quan bảo vệ pháp luật trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ do pháp luật quy định. Viện kiểm sát phải chủ động xây dựng qui chế phối hợp và tổ chức thực hiện có hiệu quả với các cơ quan hữu quan trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ do pháp luật quy định. Năm là , thực hiện tốt nguyên tắc tập trung thống nhất trong ngành, cấp dưới phục tùng sự lnh đạo chỉ đạo của cấp trên, Viện kiểm sát cấp dưới chịu sự lnh đạo tập trung thống nhất của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Chức năng nhiệm vụ của ngành là thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư phá làm cho pháp luật chấp hành một cách nghiêm chỉnh và thống nhất, pháp chế được giữ vững. Muốn làm tốt chức năng nhiệm vụ của ngành đòi hỏi mọi hoạt động của ngành kiểm sát phải theo một kế hoạch chung thống nhất trong toàn ngành và phải chấp hành nghiêm sự lãnh đạo chỉ đạo của VKS cấp trên và Viện KSND tối cao. Từ đó kết quả công tác kiểm sát sẽ có hiệu lực, hiệu quả nhiều hơn. Sáu là , hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân phải được sự giám sát và ủng hộ của nhân dân, quán triệt đầy đủ tính nhân dân trong hoạt động kiểm sát . Trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình, Viện kiểm sát phải dựa vào nhân dân, chịu sự giám sát của Quốc hội và HĐND, của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các cơ quan đoàn thể, tranh thủ sự ủng hộ của nhân dân, tích cực đấu tranh phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Thực hiện tốt mối quan hệ phối hợp thường xuyên với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị xã hội. Viện kiểm sát các cấp cũng phải luôn phối hợp chặt chẽ với các cơ quan báo chí để nắm thông tin về tội phạm và tuyên truyền pháp luật, tạo sự đồng thuận trong dư luận xã hội để đấu tranh với tội phạm và vi phạm pháp luật. Vi ện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai sẽ tiếp tục phát huy những thành tích đã đạt được để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị của ngành, yêu cầu nhiệm vụ chính trị của cấp ủy địa phương, đáp ứng với sự tin cậy của Đảng, của Nhà nước, của ngành và đòi hỏi của nhân dân trong giai đoạn mới, góp phần tô thắm truyền thống vẻ vang của ngành Kiểm sát nhân dân, đóng góp tích cực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, đấu tranh phòng chống có hiệu quả đối với các loại tội phạm và vi phạm pháp luật, bảo vệ pháp chế, bảo vệ quyền tự do dân chủ của nhân dân. Ths. Mai Văn Sinh – Trưởng phòng 10
Ý kiến bạn đọc