Những nội dung mới của luật sửa đổi bổ sung một số điều của luật thi hành án dân sự

Thứ hai - 27/07/2015 03:58 3 0
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự (sau đây gọi là Luật Thi hành án dân sự sửa đổi được Quốc hội khóa XIII thông qua tại kỳ họp thứ 8 vào ngày 25/11/2014 và có hiệu lực kể từ ngày 01/7/2015 với khá nhiều nội dung mới cần triển khai để thực hiệ n trong thời gian tới.

Việc thông qua Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi) nhằm tiếp tục hoàn thiện thể chế về thi hành án dân sự, tạo cơ sở pháp lý cho sự chuyển biến cơ bản, bền vững, tăng cường hiệu lực, hiệu quả công tác thi hành án dân sự, góp phần bảo đảm thực hiện quy định của Hiến pháp năm 2013, theo đó bản án, quyết định của Toà án nhân dân có hiệu lực pháp luật phải được cơ quan, tổ chức, cá nhân tôn trọng, nghiêm chỉnh chấp hành. Luật Thi hành án dân sự lần này đã sửa đổi 47 Điều, bãi bỏ 06 Điều và bãi bỏ một phần 02 Điều của Luật Thi hành án dân sự năm 2008. Về quyền, nghĩa vụ của người được thi hành án Luật Thi hành án dân sự sửa đổi phân định rõ ràng giữa quyền và nghĩa vụ; quy định rõ hơn về quyền yêu cầu thi hành án; yêu cầu đình chỉ thi hành một phần hoặc toàn bộ bản án, quyết định; quyền yêu cầu áp dụng biện pháp bảo đảm, áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án; được thông báo về thi hành án; thỏa thuận với người phải thi hành án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan về thời gian, địa điểm, phương thức, nội dung thi hành án; tự mình hoặc ủy quyền cho người khác xác minh, cung cấp thông tin về điều kiện thi hành án của người phải thi hành án; ủy quyền cho người khác thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình; chuyển giao quyền được thi hành án cho người khác. Một quyền rất mới, đó là quyền được yêu cầu thay đổi Chấp hành viên trong trường hợp có căn cứ cho rằng Chấp hành viên không vô tư khi làm nhiệm vụ. Quy định này phù hợp với quy định hiện hành về thay đổi người tiến hành tố tụng trong các thủ tục tố tụng, đảm bảo sự khách quan trong tổ chức thi hành án dân sự, tạo niềm tin cho nhân dân đối với hoạt động thi hành án dân sự. Sửa đổi một cách căn bản quyền, nghĩa vụ của người được thi hành án liên quan đến việc xác minh điều kiện thi hành án. Theo Điều 44 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 thì người được thi hành án có nghĩa vụ tiến hành xác minh điều kiện thi hành án của người phải thi hành án; nếu muốn yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự tiến hành xác minh thì phải chứng minh là đã tiến hành xác minh không có kết quả và phải chịu chi phí xác minh. Quy định trên trong thực tiễn thực hiện cho thấy chưa phù hợp, trở thành gánh nặng cho người được thi hành án, nhất là đối với những người được thi hành án già cả, neo đơn, ốm đau, nghèo, ở vùng sâu, vùng xa, ở địa phương khác với người phải thi hành án. Luật Thi hành án dân sự sửa đổi bỏ nghĩa vụ của người được thi hành án trong việc phải chứng minh điều kiện thi hành án của người phải thi hành án, bỏ nghĩa vụ phải nộp chi phí xác minh do Chấp hành viên thực hiện; trong trường hợp cung cấp thông tin chính xác về điều kiện thi hành án của người phải thi hành án và các trường hợp khác theo quy định của Chính phủ thì người được thi hành án còn được miễn, giảm phí thi hành án. Mặt khác, là trong thực tiễn tình trạng người phải thi hành án tìm mọi cách để trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ thi hành án, như: không nhận tài sản là của mình, đồng ý tài sản là của người khác, không khởi kiện yêu cầu phân chia tài sản chung. Do đó, Luật Thi hành án dân sự sửa đổi đã quy định bổ sung quyền của người được thi hành án trong việc yêu cầu Tòa án xác định, phân chia quyền sở hữu, sử dụng tài sản; yêu cầu Tòa án giải thích những điểm chưa rõ, đính chính lỗi chính tả hoặc số liệu sai sót; khởi kiện dân sự để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình trong trường hợp có tranh chấp của đương sự về tài sản liên quan đến thi hành án. Đây là quyền quan trọng để tạo cơ hội cho người được thi hành án bảo vệ kịp thời và đầy đủ các quyền và lợi ích hợp pháp mà bản án, quyết định đã ghi nhận. Đồng thời quy định người được thi hành án có nghĩa vụ chấp hành nghiêm chỉnh bản án, quyết định; thực hiện các quyết định, yêu cầu của Chấp hành viên trong thi hành án; thông báo cho cơ quan thi hành án dân sự khi có thay đổi về địa chỉ, nơi cư trú; chịu phí, chi phí thi hành án theo quy định. Về quyền, nghĩa vụ của người phải thi hành án Về quyền tự nguyện thi hành án, Luật Thi hành án dân sự sửa đổi theo hướng rút ngắn thời hạn tự nguyện thi hành án từ 15 ngày theo quy định tại Điều 45 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 xuống còn 10 ngày, kể từ ngày người phải thi hành án nhận được quyết định thi hành án hoặc được thông báo hợp lệ quyết định thi hành án. Quy định này nhằm hạn chế việc kéo dài thời hạn thi hành án, đồng thời phù hợp với thời hạn Chấp hành viên phải tiến hành xác minh điều kiện thi hành án quy định tại Điều 44 Luật Thi hành án dân sự. Luật Thi hành án dân sự sửa đổi đã bổ sung điểm quan trọng là quy định người phải thi hành án có nghĩa vụ kê khai trung thực tài sản, điều kiện thi hành án; cung cấp đầy đủ tài liệu, giấy tờ có liên quan đến tài sản của mình khi có yêu cầu của người có thẩm quyền và chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung kê khai đó. Đây là quy định mới, vừa khuyến khích sự tự nguyện thi hành án, nâng cao ý thức chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật, ràng buộc trách nhiệm của người phải thi hành án đối với nghĩa vụ thi hành án, vừa giảm tải trách nhiệm của Chấp hành viên, chi phí của nhà nước, đảm bảo tốt hơn quyền lợi của người được thi hành án. Mặt khác, đã bổ sung quy định rõ hơn về việc người phải thi hành án có nghĩa vụ thực hiện các quyết định, yêu cầu của Chấp hành viên trong thi hành án; thông báo cho cơ quan thi hành án dân sự khi có thay đổi về địa chỉ, nơi cư trú. Về quyền, nghĩa vụ của người có quyền, nghĩa vụ liên quan Với việc bổ sung Điều 7b mới, Luật Thi hành án dân sự sửa đổi đã làm rõ các quyền của người có quyền, nghĩa vụ liên quan đến việc thi hành án giữa các bên đương sự, giúp cho họ kịp thời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi có liên quan đến hoạt động thi hành án dân sự. Về việc thi hành án theo yêu cầu của đương sự, Luật Thi hành án dân sự sửa đổi đã thay đổi quy định “đơn yêu cầu thi hành án” bằng “yêu cầu thi hành án” để thể hiện việc yêu cầu thi hành án không chỉ bằng đơn mà còn bằng hình thức khác; khi người yêu cầu trực tiếp trình bày bằng lời nói thì cơ quan thi hành án dân sự phải lập biên bản có các nội dung cụ thể; biên bản này có giá trị như đơn yêu cầu; khi tiếp nhận yêu cầu thi hành án, thì phải thông báo bằng văn bản cho người yêu cầu thay cho việc cấp giấy xác nhận đã nhận đơn như trước đây. Luật Thi hành án dân sự sửa đổi cũng duy trì quyền của người được thi hành án tự mình hoặc ủy quyền cho người khác xác minh điều kiện thi hành án, cung cấp thông tin về tài sản, thu nhập, điều kiện thi hành án của người phải thi hành án cho cơ quan thi hành án dân sự. Cùng với đó là quyền rất mới của người được thi hành án trong việc được miễn, giảm phí thi hành án. Luật Thi hành án dân sự sửa đổi cũng đưa ra cơ chế trường hợp Chấp hành viên thấy cần thiết hoặc kết quả xác minh của Chấp hành viên và người được thi hành án khác nhau hoặc có kháng nghị của Viện kiểm sát thì Chấp hành viên phải tiến hành xác minh lại. Việc xác minh lại được tiến hành trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được kết quả xác minh do đương sự cung cấp hoặc nhận được kháng nghị của Viện kiểm sát. Về miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án đối với khoản thu nộp ngân sách nhà nước, đây là vấn đề khá quan trọng trong quy trình thi hành án nhằm giải quyết những trường hợp người phải thi hành án phải thi hành các khoản cho ngân sách nhưng không có điều kiện thi hành. Nhằm khắc phục các bất cập của Luật Thi hành án dân sự năm 2008, tại khoản 1 Điều 61, Luật Thi hành án dân sự sửa đổi đã làm rõ hơn thế nào là không có điều kiện thi hành án; quy định rõ hơn về căn cứ để xác định thời hạn xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án. Đồng thời, bổ sung vào khoản 4 điều kiện xét miễn thi hành phần nghĩa vụ còn lại mà Luật Thi hành án dân sự năm 2008 đã bỏ sót. Cụ thể: Luật Thi hành án dân sự sửa đổi đã sửa đổi, bổ sung theo hướng quy định điều kiện chung mà người phải thi hành án có thể được xét miễn nghĩa vụ thi hành án khi có đủ các điều kiện sau đây: (1) điều kiện về tài sản, phải là “Không có tài sản hoặc có tài sản nhưng tài sản đó theo quy định của pháp luật không được xử lý để thi hành án hoặc không có thu nhập hoặc mức thu nhập thấp, chỉ bảo đảm cuộc sống tối thiểu cho người phải thi hành án và gia đình họ; (2) Điều kiện về thời gian, phải là “Hết thời hạn 05 năm, kể từ ngày ra quyết định thi hành án khoản thu nộp ngân sách nhà nước có giá trị dưới 2.000.000 đồng hoặc hết thời hạn 10 năm, kể từ ngày ra quyết định thi hành án đối với khoản thu nộp ngân sách nhà nước có giá trị từ 2.000.000 đồng đến dưới 5.000.000 đồng”. Ngoài ra, người phải thi hành án đã thi hành được một phần khoản thu nộp ngân sách nhà nước có thể được xét miễn thi hành phần nghĩa vụ còn lại khi có đủ các điều kiện sau đây: (1) Điều kiện về tài sản, như đã nêu ở trên, được quy định tại điểm a khoản 1 Điều này và (2) Điều kiện về thời gian, đó là “Hết thời hạn 05 năm, kể từ ngày ra quyết định thi hành án mà phần nghĩa vụ còn lại có giá trị dưới 5.000.000 đồng hoặc hết thời hạn 10 năm, kể từ ngày ra quyết định thi hành án mà phần nghĩa vụ còn lại có giá trị từ 5.000.000 đồng đến dưới 10.000.000 đồng”. Để phù hợp với chính sách hình sự, đối với những người phải thi hành án đã tích cực thi hành được một phần án phí, tiền phạt nhưng lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn kéo dài do thiên tai, hỏa hoạn, tai nạn hoặc ốm đau gây ra mà không thể tiếp tục thi hành được phần nghĩa vụ còn lại hoặc lập công lớn thì Luật Thi hành án dân sự sửa đổi quy định họ có thể được miễn thi hành phần nghĩa vụ còn lại. Đối với người phải thi hành án là người bị kết án thuộc trường hợp quy định tại điểm c mục 3 Nghị quyết số 32/1999/QH10 của Quốc hội và điểm đ khoản 2 Điều 1 Nghị quyết số 33/2009/QH12 của Quốc hội thì được miễn nghĩa vụ thi hành án phí trong bản án hình sự mà người đó phải chấp hành. Về giảm thi hành án, Luật Thi hành án dân sự sửa đổi quy định người phải thi hành án đã thi hành được một phần khoản thu nộp ngân sách nhà nước thì có thể được xét giảm một phần nghĩa vụ thi hành án khi có đủ các điều kiện, cụ thể là: (1) Điều kiện về tài sản như đã nêu ở trên, được quy định tại điểm a khoản 1 Điều này và (2) Điều kiện về thời gian, đó là “Hết thời hạn 05 năm, kể từ ngày ra quyết định thi hành án mà phần nghĩa vụ còn lại có giá trị từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, mỗi lần giảm không quá một phần tư số tiền còn lại phải thi hành án” hoặc đã “Hết thời hạn 10 năm, kể từ ngày ra quyết định thi hành án mà phần nghĩa vụ còn lại có giá trị từ trên 100.000.000 đồng, mỗi lần giảm không quá một phần năm số tiền còn lại phải thi hành án nhưng tối đa không quá 50.000.000 đồng/lần”. Luật Thi hành án dân sự sửa đổi quy định người phải thi hành án chỉ được xét miễn hoặc giảm một lần trong 01 năm đối với mỗi bản án, quyết định. Quyết định thi hành án lần đầu là căn cứ để xác định thời hạn xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án. Về thanh toán tiền, trả tài sản thi hành án cho người được thi hành án, có 03 nội dung được sửa đổi, bổ sung, cụ thể là: (1) Bổ sung khoản lệ phí Tòa án là một khoản được thanh toán và được thanh toán cùng hàng với án phí Tòa án. (2) Sửa đổi, làm rõ hơn quy định về thứ tự thanh toán tiền thi hành án trong trường hợp bán tài sản cầm cố, thế chấp (khoản 3 Điều 47). Theo đó, khi bên nhận cầm cố, thế chấp là bên được thi hành án thì số tiền thu được từ việc bán tài sản cầm cố, thế chấp được ưu tiên thanh toán cho bên nhận cầm cố, thế chấp; trường hợp bán tài sản mà bản án, quyết định tuyên kê biên để bảo đảm thi hành một nghĩa vụ cụ thể thì số tiền thu được cũng áp dụng nguyên tắc tương tự như trên: ưu tiên thanh toán cho bên có nghĩa vụ được bảo đảm. Tuy nhiên, trước khi ưu tiên thanh toán theo nguyên tắc trên, Luật Thi hành án dân sự sửa đổi bổ sung khoản án phí của bản án, quyết định đã tuyên về việc xử lý tài sản đó, chi chi phí cưỡng chế và khoản tiền tạo lập nơi ở mới cho người phải thi hành án quy định tại khoản 5 Điều 115 của Luật Thi hành án dân sự được thanh toán trước. Mặt khác, Luật Thi hành án dân sự sửa đổi cũng bổ sung quy định về xử lý tài sản cầm cố, thế chấp mà bên nhận cầm cố, thế chấp không phải là người được thi hành án (do Chấp hành viên áp dụng quyền kê biên tài sản đang cầm cố thế chấp quy định tại Điều 90 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008) thì người nhận cầm cố, thế chấp lại được ưu tiên thanh toán trước khi thanh toán các khoản án phí, chi phí cưỡng chế và khoản tiền quy định tại khoản 5 Điều 115 của Luật này. (3) Luật Thi hành án dân sự sửa đổi bổ sung hướng xử lý trong trường hợp đương sự không đến nhận thì tiền, tài sản đó được xử lý theo quy định chung về trả lại tiền, tài sản quy định tại Điều 126 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008. Nguyễn Viết Hạnh Trưởng phòng 10 VKSND tỉnh Đồng Nai ​

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

09a-CK/TSC

Công khai tình hình đầu tư xây dựng, mua sắm, giao, thuê tài sản công năm 2025

lượt xem: 10 | lượt tải:6

127/QĐ-VKS

QĐ về việc công bố, công khai số liệu giao dự toán ngân sách nhà nước năm 2026 của VKSND thành phố Đồng Nai

lượt xem: 12 | lượt tải:6

128/QĐ-VKS

QĐ về việc công bố công khai số liệu giao dự toán ngân sách nhà nước năm 2026 của Văn phòng VKSND thành phố Đồng Nai

lượt xem: 11 | lượt tải:6

198/BC-VKS

Báo cáo công khai số liệu và thuyết minh tình hình thực hiện dự toán ngân sách nhà nước 6 tháng năm 2026 của VKSND thành phố Đồng Nai

lượt xem: 13 | lượt tải:10

199/BC-VKS

Báo cáo công khai số liệu và thuyết minh tình hình thực hiện dự toán ngân sách nhà nước 6 tháng năm 2026 của VP VKSND thành phố Đồng Nai

lượt xem: 17 | lượt tải:7
lgo vkstoi cao
banner kiemsat2vks1
tvpl
công khai tài chính
bvpl
TB Trụ sở
Nghị quyết 205
Công khai tài chính
Chithi06
Thống kê truy cập
  • Đang truy cập15
  • Hôm nay742
  • Tháng hiện tại32,471
  • Tổng lượt truy cập19,965,863
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây