NHỮNG KHÓ KHĂN, VƯỚNG MẮC TRONG CÔNG TÁC KIỂM SÁT VIỆC XEM XÉT, QUYẾT ĐỊNH ÁP DỤNG BIỆN PHÁP XỬ LÝ HÀNH CHÍNH TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI

Thứ hai - 13/04/2020 02:55 4 0
Sau khi Luật xử lý vi phạm hành chính được Quốc hội thông qua ngày 20/6/2012, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/4/2014 thì thẩm quyền quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc được chuyển từ Ủy ban nh

Tiếp theo đó là vào ngày 20/01/2014, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Pháp lệnh 09/2014/UBTVQH13 quy định trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân (gọi tắt là Pháp lệnh 09). Ngày 14/11/2014, Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã ban hành Quyết định số 566/QĐ-VKSTC và Quyết định số 39/QĐ-VKSTC ngày 08/4/2015 để phân công bổ sung nhiệm vụ kiểm sát xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân cho các đơn vị trong ngành Kiểm sát. Do đó, Phòng kiểm sát việc giải quyết các vụ án hành chính; các vụ việc kinh doanh thương mại, lao động và phá sản Doanh nghiệp của Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh (Phòng 10) còn thực hiện nhiệm vụ kiểm sát việc áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân. Để thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ mới theo quy định của pháp luật, VKSND hai cấp tỉnh Đồng Nai đã quán triệt và bám sát chỉ đạo của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tỉnh ủy Đồng Nai, từ đó đã chủ động phối hợp với các cơ quan chức năng ở địa phương kịp thời tham mưu đề xuất các biện pháp, giải pháp có hiệu quả; đồng thời kiến nghị Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai (năm 2016) chỉ đạo các cơ quan nhà nước tỉnh, huyện trong việc lập hồ sơ đưa người đi cai nghiện ma túy và phòng ngừa vi phạm trong quản lý cai nghiện bắt buộc. Tuy nhiên, qua 05 năm thực hiện Pháp lệnh 09, VKSND hai cấp tỉnh Đồng Nai cũng còn gặp khó khăn, vướng mắc như sau: 1. Đối với Luật và pháp lệnh - Việc thực hiện quy định khoản 1 và 2 Điều 131 Luật XLVPHC không khả thi, vì hầu hết các đối tượng người nghiện đều lệ thuộc nặng nề vào ma túy cả về tinh thần lẫn thể chất, họ thường có thái độ bất hợp tác, thậm chí chống đối quyết liệt việc đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, gia đình và tổ chức xã hội rất khó quản lý. Hơn nữa, hiện nay, các tổ chức xã hội không có đầy đủ các điều kiện về con người, cơ sở vật chất. Bên cạnh đó, Luật XLVPHC và các văn bản quy định chi tiết thi hành Luật cũng không quy định cụ thể tổ chức xã hội nào thực hiện công việc này. Ngoài ra Điểm b khoản 1 Điều 103 Luật XLVPHC quy định hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người nghiện không có nơi cư trú ổn định “tài liệu chứng minh người đó đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn về hành vi nghiện ma túy”. Quy định này rất khó thực hiện trong thực tế và dễ bị Tòa án trả lại hồ sơ vì người nghiện không có nơi cư trú ổn định không bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn. Pháp lệnh về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân: Theo quy định tại khoản 3 Điều 4 Pháp lệnh số 09 quy định về kiểm sát việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính: “Sau khi nhận được thông báo thụ lý hồ sơ của Tòa án cùng cấp, Viện kiểm sát có quyền nghiên cứu hồ sơ vụ việc tại Tòa án đã thụ lý vụ việc đó” . Quy định như vậy còn mang tính chất chung chung, chưa phù hợp với quy định tại Điều 147 Luật Tố tụng hành chính năm 2015: “Tòa án phải gửi hồ sơ vụ án cùng với việc gửi quyết định đưa vụ án ra xét xử cho Viện kiểm sát cùng cấp nghiên cứu. Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ án, Viện kiểm sát phải trả lại hồ sơ vụ án cho Tòa án” . 2. Đối với các Nghị định - Đối với việc miễn chấp hành biện pháp xử lý hành chính đưa người vào cơ sở cai nghiện bắt buộc: Theo quy định tại Khoản 2 Điều 111 Luật xử lý vi pham hành chính 2012 và Điểm b Khoản 2 Điều 18 Nghị định 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 thì người phải chấp hành quyết định nhưng chưa đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc được miễn chấp hành quyết định theo một trong các trường hợp sau đây: “Trong thời gian hoãn chấp hành quyết định mà người đó có tiến bộ rõ rệt trong việc chấp hành pháp luật hoặc lập công hoặc không còn nghiện ma túy”. Nhưng xác định như thế nào là “ không còn nghiện ma túy”. Cơ quan nào có thẩm quyền xác định tình trạng người nghiện không còn nghiện ma túy và cấp nào có thẩm quyền cho kết quả này vẫn còn bỏ ngõ vì việc nghiện không thể nào chấm dứt trong một thời gian ngắn. Thực tế, người nghiện đưa ra các kết quả của Bệnh viện cấp huyện như “âm tính với chất gây nghiện” hay “ không phát hiện chất gây nghiện trong nước tiểu” thì có chấp nhận hay không? Việc chấp nhận có đảm bảo chính xác hay không? - Về cơ sở vật chất phục vụ việc quản lý người nghiện của tổ chức xã hội: Tại Khoản 2, Điều 9 và Điều 14 Nghị định 221 (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 136/201 6 /NĐ-CP ngày 09/9/2016) quy định giao cho tổ chức xã hội quản lý người nghiện ma túy không có nơi cư trú ổn định trong thời gian làm thủ tục áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tuy nhiên, thực tế các tổ chức xã hội có đủ điều kiện quản lý các đối tượng nghiện này rất ít, chưa đáp ứng được nhu cầu. - Về quản lý người vi phạm: Theo quy định tại điểm c, khoản 1, Điều 8 Nghị định số 221 quy định “ Trường hợp chưa xác định được nơi cư trú ổn định của người vi phạm, thì tiến hành xác định nơi cư trú ổn định của người đó. Trong thời gian 15 ngày làm việc, nếu xác định được nơi cư trú ổn định thì thực hiện theo điểm a hoặc điểm b khoản 1 Điều này…”. Tuy nhiên, chưa có hướng dẫn cụ thể trong 15 ngày chờ xác định nơi cư trú của đối tượng vi phạm thì tổ chức nào chịu trách nhiệm quản lý đối tượng vi phạm?. 3. Đối với các Nghị quyết Theo quy định tại Điều 7 của Nghị quyết số 04 ngày 24/12/2015 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao hướng dẫn về việc phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính quy định: “S au khi những người tham gia phiên họp kết thúc tranh luận, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính và ý kiến của Viện kiểm sát về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính”. Như vậy, khi tham gia phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính, Viện kiểm sát có trách nhiệm kiểm sát việc lập hồ sơ, phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính và phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính (phát biểu về đường lối giải quyết). Để có thể phát biểu ý kiến cả về tố tụng và nội dung như nêu trên, đòi hỏi Kiểm sát viên phải nghiên cứu lập hồ sơ kiểm sát đầy đủ, đúng quy định của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, nắm chắc các quy định của pháp luật có liên quan, trên cơ sở đó đề xuất quan điểm giải quyết vụ việc với lãnh đạo Viện bảo đảm có căn cứ, đúng pháp luật. Nhưng tại khoản 3 của Pháp lệnh số 09 quy định “Sau khi nhận được thông báo thụ lý hồ sơ của Tòa án cùng cấp, Viện kiểm sát có quyền nghiên cứu hồ sơ vụ việc tại Tòa án đã thụ lý vụ việc đó”. Từ quy định trên, Viện kiểm sát luôn phải “chạy theo” Tòa án để được tiếp cận nghiên cứu hồ sơ vụ việc, đây là quy định chưa phù hợp với việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan tiến hành tố tụng, bởi lẽ Viện kiểm sát là cơ quan có quyền và nghĩa vụ kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính của Tòa án, được thực hiện quyền yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị nhằm bảo đảm việc giải quyết kịp thời, đúng pháp luật. Trên thực tế, đã xảy ra những trường hợp Thẩm phán thụ lý vụ việc gây khó khăn cho Kiểm sát viên trong việc tiếp cận, nghiên cứu hồ sơ; mặt khác, Pháp lệnh số 09 quy định Viện kiểm sát nghiên cứu hồ sơ tại Tòa án nhưng để nghiên cứu được đầy đủ hồ sơ, đánh giá khách quan, toàn diện, chính xác chứng cứ làm cơ sở cho việc giải quyết vụ việc đòi hỏi phải có thời gian và phải được bảo đảm những điều kiện cần thiết về cơ sở vật chất cho Kiểm sát viên nghiên cứu hồ sơ như bàn ghế, phòng làm việc … Vì thế, để thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình, Kiểm sát viên được phân công thụ lý giải quyết vụ việc phải trực tiếp làm việc với Thẩm phán “xin mượn hồ sơ” về phô tô nghiên cứu, đề xuất quan điểm với lãnh đạo Viện. Điều này đã gây ra nhiều khó khăn cho Kiểm sát viên trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình. 4. Đối với các Thông tư Thông tư số 17/2015 ngày 09/7/2015 quy định thẩm quyền, thủ tục và quy trình xác định tình trạng nghiện ma túy đã đưa ra các biểu mẫu và cụ thể hóa cũng như sửa đổi các văn bản về xác định tình trạng nghiện ma túy trước đây để người có thẩm quyền dễ thực hiện hơn. Tuy nhiên, vẫn còn những vướng mắc, đó là: nhiều loại ma túy không thuộc nhóm ATS, đặc biệt là Methamphetamin (ma túy đá) và nhóm OPIATS đã được sử dụng ở nước ta song chưa có hướng dẫn chẩn đoán nghiện. Quyết định số 5075/QĐ-BYT và Quyết định số 3556/QĐ-BYT của Bộ Y tế đều đưa ra tiêu chuẩn để xác định tình trạng nghiện của một người phải đủ cả hai điều kiện về lâm sàng và xét nghiệm. Về lâm sàng phải có ít nhất 3/6 triệu chứng trong 12 tháng vừa qua và xét nghiệm phải dương tính với chất ma túy. Tuy nhiên, 06 triệu chứng theo hướng dẫn trên thì có tới 05 triệu chứng phụ thuộc vào ý chí chủ quan của người cần xác định nghiện, họ phải hợp tác, trả lời đúng vấn đề của mình khi được hỏi và chỉ có một triệu chứng “hội chứng cai” là phản ảnh khách quan. Song hầu hết các đối tượng thuộc diện bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính không hợp tác, họ không trả lời đúng tình trạng nghiện của mình, hơn nữa, để xác định hội chứng cai đòi hỏi phải giữ người cần xác định nghiện không cho họ sử dụng ma túy trong thời gian 48 giờ đối với người xác định nghiện OPIAT và 72 giờ đối với người xác định nghiện ATS. Tuy nhiên, luật pháp không quy định việc giữ người nên gây khó khăn cho công tác xác định tình trạng nghiện. Mặt khác, việc xác định các triệu chứng của hội chứng cai, đặc biệt hội chứng cai ATS, các triệu chứng về tâm thần là chủ yếu đòi hỏi người có thẩm quyền xác định nghiện phải có kiến thức, chuyên môn sâu về tâm thần mới có thể xác định được. Thực tế tỷ lệ xác định nghiện ATS trong số người sử dụng ATS được đưa vào các cơ sở tiếp nhận đối tượng xã hội (cơ sở quản lý nghiện không có nơi cư trú ổn định trong thời gian lập hồ sơ đề nghị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc) rất khác nhau tại các cơ sở. 6. Khó khăn khi áp dụng các văn bản pháp luật liên quan Việc xác định người nghiện không có nơi cư trú ổn định: Trên thực tế có nhiều người nghiện ma túy sống lang thang lúc ở địa bàn xã/phường này, lúc sang địa bàn xã/phường khác (có thể trong cùng địa bàn huyện/quận hoặc khác huyện/quận) nên việc lập hồ sơ quản lý đối với những người nghiện này thường rất khó khăn. Các văn bản pháp luật chưa có hướng dẫn cụ thể như thế nào là không có nơi cư trú ổn định gây lúng túng trong việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. 7. Ngoài ra, còn có những khó khăn khác - Tổ chức bộ máy, nguồn nhân lực Đối với Viện kiểm sát cấp huyện theo cơ cấu tổ chức hiện nay có sự phân chia thành các bộ phận: Dân sự, hình sự, văn phòng – khiếu tố. Khâu công tác kiểm sát này thuộc bộ phận dân sự, trong khi đó không có Kiểm sát viên chuyên sâu về mảng công tác này mà được phân công cho Kiểm sát viên thuộc bộ phận dân sự. Vì vậy thời gian để thực hiện việc nghiên cứu, tham gia phiên họp là còn hạn chế. - Về nhận thức Công tác kiểm sát việc xem xét, quyết định áp dụng biện biện pháp xử lý hành chính: đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính và Pháp lệnh số 09 là khâu công tác mới nhưng rất quan trọng vì việc quyết định áp dụng hay không áp dụng các biện pháp này có liên quan trực tiếp đến quyền con người, quyền công dân được Hiến pháp và pháp luật bảo vệ. Tuy nhiên, sau hơn 05 năm thực hiện vẫn chưa có văn bản hướng dẫn về việc lập hồ sơ kiểm sát dẫn đến tình trạng lập hồ sơ không thống nhất giữa các đơn vị, thậm chí trong cùng một đơn vị, mỗi kiểm sát viên lập hồ sơ một kiểu theo nhận thức của cá nhân họ. Bên cạnh đó, chưa có hệ thống biểu mẫu và sổ sách theo dõi tình hình thụ lý, giải quyết các biện pháp xử lý hành chính này nên cũng gây khó khăn cho quá trình thực hiện công tác kiểm sát. - Trong công tác giữ người Về trình tự, thủ tục lập hồ sơ quản lý người nghiện hiện nay phải qua nhiều cơ quan như Công an xã, Công an huyện, Phòng Tư pháp, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội, TAND cấp huyện, nên mất rất nhiều thời gian. Trong thời gian chờ có quyết định, người nghiện có hộ khẩu thường trú tại địa phương sẽ được gửi về gia đình quản lý, những người không rõ nơi cư trú phải đưa đến các cơ sở quản lý. Do đó, việc quản lý đối tượng trong thời gian chờ xác định tình trạng nghiện ma túy là vấn đề rất khó khăn, phức tạp. Bên cạnh đó, theo quy định về xác định tình trạng nghiện ma túy, đối với đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy nhóm Opiats thì thời gian theo dõi hội chứng cai tối đa là 03 ngày, đối với đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy nhóm tổng hợp dạng Amphetaminne thì thời gian theo dõi hội chứng cai tối đa là 05 ngày. Tuy nhiên, pháp luật không quy định về vấn đề tạm giữ hoặc quản lý đối tượng này trong thời gian chờ xác định tình trạng nghiện ma túy. - Trong công tác giáo dục tại xã phường trước khi đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc Trong hoạt động quản lý, giáo dục đối tượng đã có sự phân công cá nhân, tổ chức, đoàn thể trực tiếp quản lý giáo dục đối tượng còn mang tính hình thức, hiệu quả chưa cao. Hiện nay quy định chế độ, chính sách cho người được phân công quản lý, giáo dục đối tượng cũng như trách nhiệm để đối tượng vi phạm pháp luật là chưa được quan tâm thực hiện đúng mức. - Tình hình thực tiễn tại địa phương Người nghiện ma túy và bản thân gia đình, người thân của họ hầu hết đều không muốn hợp tác với các cơ quan chức năng trong việc giải quyết những hành vi vi phạm pháp luật của họ, đặc biệt đối với người nghiện ma túy. Vì vậy, với các thủ tục thụ lý, xem xét và tiến hành phiên họp để quyết định việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính trong thời hạn từ 15 ngày đến 30 ngày (với vụ việc phức tạp) như Pháp lệnh quy định có thể dẫn tới tình trạnh trốn tránh của người nghiện không tới dự phiên họp của Tòa, để nhận quyết định áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc đối với họ hoặc họ đến nhận quyết định nhưng lại không chấp hành sự phán quyết của Tòa án. Với những người nghiện không có nơi cư trú ổn định, việc yêu cầu họ tham gia quá trình thụ lý và dự phiên họp xem xét áp dụng biện pháp xử lý hành chính lại càng khó khăn, phức tạp. * Từ những khó khăn, vướng mác trên, đơn vị có một số g iải pháp khắc phục như sau - Viện kiểm sát cấp trên cần có văn bản hướng dẫn đối với những khó khăn, vướng mắc nêu trên nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả của công tác xét đưa người vào cơ sở cai nghiện bắt buộc nói riêng và việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân nói chung. - Viện kiểm sát nhân dân tối cao cần nghiên cứu xây dựng hệ thống biểu mẫu, sổ sách sử dụng trong công tác kiểm sát việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án; hướng dẫn cách thiết lập hồ sơ kiểm sát để Viện kiểm sát nhân dân ở địa phương thực hiện được thống nhất. - Tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ, năng lực chuyên môn cho cán bộ, Kiểm sát viên kiểm sát trong lĩnh vực công tác này. Tin bài : Đặng Ngọc Dung - Phòng 10 - VKS​ND tỉnh Đồng Nai Nguồn tin : Theo các báo cáo của Phòng 10 về công tác thi hành Pháp lệnh 09/2014/UBTVQH13 trong ngành Kiểm sát nhân dân

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

09a-CK/TSC

Công khai tình hình đầu tư xây dựng, mua sắm, giao, thuê tài sản công năm 2025

lượt xem: 11 | lượt tải:6

127/QĐ-VKS

QĐ về việc công bố, công khai số liệu giao dự toán ngân sách nhà nước năm 2026 của VKSND thành phố Đồng Nai

lượt xem: 12 | lượt tải:6

128/QĐ-VKS

QĐ về việc công bố công khai số liệu giao dự toán ngân sách nhà nước năm 2026 của Văn phòng VKSND thành phố Đồng Nai

lượt xem: 11 | lượt tải:6

198/BC-VKS

Báo cáo công khai số liệu và thuyết minh tình hình thực hiện dự toán ngân sách nhà nước 6 tháng năm 2026 của VKSND thành phố Đồng Nai

lượt xem: 13 | lượt tải:10

199/BC-VKS

Báo cáo công khai số liệu và thuyết minh tình hình thực hiện dự toán ngân sách nhà nước 6 tháng năm 2026 của VP VKSND thành phố Đồng Nai

lượt xem: 17 | lượt tải:7
lgo vkstoi cao
banner kiemsat2vks1
tvpl
công khai tài chính
bvpl
TB Trụ sở
Nghị quyết 205
Công khai tài chính
Chithi06
Thống kê truy cập
  • Đang truy cập13
  • Hôm nay740
  • Tháng hiện tại33,915
  • Tổng lượt truy cập19,967,307
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây