I.ĐẶT VẤN ĐỀ: Năm 2016, Viện kiểm sát nhân dân hai cấp đã triển khai kế hoạch công tác năm 2016 đạt và vượt nhiều chỉ tiêu nghiệp vụ trong công tác thi hành án dân sự, thi hành án hành chính. Đã tiến hành Kiểm sát thường kỳ và Kiểm sát trực tiếp 26 cuộc (Viện kiểm sát nhân dân tỉnh 04 cuộc) Qua công tác kiểm sát đã phát hiện các dạng vi phạm về việc ra Quyết định thi hành án, vi phạm thời hạn xác minh điều kiện thi hành án, chậm tổ chức thi hành với vụ, việc có điều kiện thi hành án, chậm kê biên cưỡng chế tài sản giảm giá bán đấu giá, giao tài sản cho người trúng đấu giá. Đã ban hành 13 Kháng nghị và 26 Kiến nghị đối với các vi phạm của Chấp hành viên và Cơ quan thi hành án dân sự. Tuy nhiên vẫn còn những hạn chế, tồn tại cần được tháo gỡ kịp thời và những giải pháp mang tính đột phá để tạo chuyển biến mạnh mẽ nâng cao chất lượng hiệu quả trong công tác kiểm sát thi hành án dân sự, thi hành án hành chính. II. NHỮNG TỒN TẠI- HẠN CHẾ- KHÓ KHĂN VƯỚNG MẮC 1. Số lượng cán bộ bố trí làm công tác kiểm sát thi hành án dân sự có hạn (nhất là đối với cấp huyện chỉ có 01 đồng chí Kiểm sát viên đảm nhiệm trong khi số lượng vụ, việc thi hành án của đơn vị cấp huyện hàng ngàn vụ, việc) dẫn đến Kiểm sát viên chưa thể thực hiện đầy đủ các hoạt động kiểm sát thi hành án dân sự một cách bài bản, có chất lượng và phải lựa chọn các nội dung trọng tâm như tham gia kiểm sát kê biên cưỡng chế tài sản, kiểm sát đơn khiếu nại tố cáo đối với các vụ việc nổi cộm, kiểm sát việc hồ sơ miễn giảm thi tiền thi hành án…Điển hình là Viện kiểm sát nhân dân TP. Biên Hòa với số lượng trên 8.000 việc thi hành án dân sự nên Lãnh đạo Viện đã phải bố trí sắp xếp 01 đồng chí chuyên viên để vào sổ thụ lý các Quyết định về thi hành án. 2. Kết quả công tác kiểm sát thi hành án dân sự nổi bật là thông qua công tác kiểm sát thi hành án dân sự phát hiện các vi phạm trong công tác thi hành án dân sự để thực hiện quyền năng pháp lý yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị. Các Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện đã thực hiện tốt theo chỉ tiêu, kế hoạch hàng năm đạt và vượt so với kế hoạch đề ra. Nhiều địa phương vượt cao như Biên Hòa, Trảng Bom, Thống Nhất, Long Thành, Nhơn Trạch. Tuy nhiên các bản kiến nghị, kháng nghị còn hạn chế cả về nội dung vi phạm (chưa chỉ rõ được nội dung vi phạm, tính chất mức độ vị phạm, hậu quả và sự cần thiết phải kiến nghị, kháng nghị để khắc phục vi phạm cũng như tính chất điển hình của vi phạm). Về hình thức các văn bản chưa căn cứ theo đúng biểu mẫu do ngành quy định, chưa chú ý đến việc quy định thời hiệu ban hành kháng nghị hoặc chưa rõ ràng giữa cần thiết ban hành kiến nghị hay kháng nghị cho phù hợp. Qua theo dõi Phòng 11 cũng nhận thấy nhiều bản kiến nghị, kháng nghị có chất lượng, được Cơ quan thi hành án dân sự chấp nhận, thống nhất cao là do các đơn vị Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện đã nắm chắc tình hình vi phạm và nhắc nhở trước, nếu Chấp hành viên không khắc phục sửa chữa thì tiến hành kiến nghị hoặc kháng nghị. Đồng thời, do thực hiện tốt quan hệ phối hợp liên ngành trong thi hành án dân sự nên các ngành thấy được nhiệm vụ quyền hạn và trách nhiệm của Viện kiểm sát trong công tác kiểm sát hoạt động tư pháp nói chung và công tác kiểm sát thi hành án dân sự nói riêng. Ngoài ra những vụ việc còn có ý kiến chưa thống nhất thì trước khi ban hành kháng nghị, Viện kiểm sát cấp huyện nên trao đổi nghiệp vụ với Phòng 11 Viện kiểm sát nhân dân tỉnh (hoặc thỉnh thị báo cáo Lãnh đạo Viện cho ý kiến) thì công tác kháng nghị đạt chất lượng và hiệu quả hợn. Ngoài việc kiến nghị, kháng nghị đối với Chấp hành viên, Cơ quan thi hành án dân sự thì các đơn vị Viện kiểm sát cần tăng cường kiểm sát đối với tổ chức, cá nhân có liên quan trong công tác thi hành án dân sự đảm bảo sự toàn diện trong hoạt động thi hành án như hoạt động thẩm định giá, bán đấu giá tài sản, chuyển giao bản án, quyết định của Tòa án, việc cung cấp thông tin về tài sản, tài khoàn và thu nhập của người phải thi hành án thi hành án. 3. Về công tác Trực tiếp kiểm sát: Viện kiểm sát cấp huyện đã thực hiện đúng quy trình kiểm sát trực tiếp định kỳ 06 tháng đầu năm và 06 tháng cuối năm đối với Cơ quan thi hành án dân sự, đã ban hành Quyết định, kế hoạch trực tiếp kiểm sát và triển khai theo đúng nội dung và thời gian quy định, kết thúc kiểm sát đã ban hành kết luận kiểm sát. Tuy nhiên nội dung các cuộc kiểm sát trực tiếp vẫn còn dàn trải, phản ánh đầy đủ các hoạt động của Cơ quan thi hành án dân sự dẫn đến chưa sâu sát với thực tế nhất là các hoạt động trọng tâm trong kỳ kiểm sát các lĩnh vực dễ phát sinh tiêu cực như thu chi tiền thi hành án, xử lý tang tang tài vật, thanh toán tiền cho người được thi hành án. Thực tế các vi phạm được phát hiện thông qua kiểm sát trực tiếp vẫn còn hạn chế là chưa xác định vi phạm cụ thể theo điều khoản nào của văn bản luật, các dạng vi phạm và vụ việc cụ thể, thông qua đó có biện pháp xử lý phù hợp. Đối với những vi phạm có tính chất phức tạp nghiêm trọng thì phải ban hành kiến nghị, kháng nghị kịp thời để đảm bảo quyền lợi ích hợp pháp của nhà nước, xã hội và công dân. Cần tăng cường theo dõi công tác trả lời kết luận Kiểm sát trực tiếp phúc tra kết quả thực hiện các kiến nghị, kháng nghị và kết luận kiểm sát của Viện kiểm sát nhân dân đảm bảo hiệu lực của công tác kiểm sát. Đối với kiến nghị, kháng nghị, nội dung kiểm sát trực tiếp không được chấp nhận hoặc chấp nhận một phần thì phải tiến hành kiểm tra nếu thấy đúng thì tiếp tục bảo vệ, báo cáo vụ việc về Viện kiểm sát nhân dân cấp trên theo quy định tại Điều 161 luật thi hành án dân sự, trường hợp thấy không đúng thì chủ động rút kháng nghị, kiến nghị đảm bảo duy trì tốt quan hệ phối hợp liên ngành. 5. Thực tiễn việc tổ chức thi hành án dân sự, án hành chính thường kéo dài nhiều năm, nhiều văn bản hướng dẫn chỉ đạo và quy định của pháp luật cần phải áp dụng, Chấp hành viên áp dụng nhiều biện pháp tác nghiệp nên hoạt động kiểm sát thi hành án dân sự cần có sự tích cực chủ động liên hệ với Chấp hành viên để nắm các vụ việc đang thi hành dở dang, qua đó rà soát tiến độ, kết quả thi hành án, nghiên cứu những khó khăn vướng mắc và bàn biện pháp tháo gỡ đối với Chấp hành viên để đẩy nhanh tiến độ và kết quả thi hành án. Khó khăn vướng mắc trong công tác phối hợp là Chấp hành viên chạy theo lượng án mới thi hành nên không tập trung giải quyết lượng án tồn kéo dài nhiều năm. Đối với công tác kế toán nghiệp vụ thi hành án vẫn còn buông lỏng, chưa có sự đối chiếu kịp thời, đầy đủ giữa Chấp hành viên và Kế toán thi hành án dẫn đến số liệu không chính xác, số lượng tiền tồn đọng trong tài khoản tạm gởi của Cơ quan thi hành án dân sự tại Kho bạc nhà nước không cụ thể từng vụ việc thi hành án để xử lý dứt điểm, nếu không quản lý tốt dễ dẫn đến việc thất thoát. Trong năm 2016 Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân Tối cao đã khởi tố 02 vụ án xảy ra tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Thống Nhất và Chi cục thi hành án dân sự huyện Long Thành, khởi tố 05 bị can về tội Lợi dụng chức vụ quyền hạn trong thi hành công vụ gây thiệt hại hàng tỷ đồng tiền thi hành án. Do vậy Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện cần tăng cường kiểm sát hoạt động kế toán thi hành án, việc quản lý, thu chi, thanh toán tiền thi hành án để phát hiện vi phạm , kiến nghị, kháng nghị các biện pháp phòng ngừa vi phạm. 6. Về số liệu vụ việc thi hành án và kết quả kiểm sát thi hành án dân sự phục vụ công tác báo cáo thống kê của nghành và thống kê liên ngành. Năm 2016 vẫn còn chênh lệch số liệu thống kê giữa Viện kiểm sát và Cơ quan thi hành án dân sự. Theo Công văn số 3403/VKSTC-C2 ngày 24/8/2016 của Cục thống kê tội phạm và công nghệ thông tin thì số liệu về số việc thụ lý mới chênh lệch 3586 việc (15.806/19.392 việc) và số việc thi hành án xong là 1.361 việc (12.784 việc/14.145 việc) Phòng thống kê tội phạm và công nghệ thông tin đã tiến hành kiểm tra rà soát số liệu giữa các đơn vị cấp huyện để điều chỉnh số liệu theo báo cáo. Nguyên nhân chênh lệch số liệu là do biểu mẫu thống kê còn không thống nhất, cách tính số liệu không giống nhau, chênh lệch về thời điểm lấy số liệu, thời điểm chốt số liệu làm báo cáo. Để khắc phục tình trạng này, Viện kiểm sát nhân dân tối cao – Tòa án nhân dân tối cao – Bộ tư pháp đã ban hành Thông tư liên tịch số 06 ngày 31/5/2016 hướng dẫn phối hợp trong công tác thống kê thi hành án dân sự (có hiệu lực từ ngày 01/8/2016) quy định trách nhiệm của Cơ quan thi hành án dân sự trong việc phối hợp với Viện kiểm sát, Tòa án nhân dân cùng cấp lập báo cáo thống kê (biểu 01-02-03) trách nhiệm của Viện kiểm sát nhân dân trong việc phối hợp với Tòa án nhân dân, Cơ quan thi hành án cùng cấp lập biểu mẫu số 04 báo cáo thống kê liên ngành. Quy định thời hạn lập báo cáo, thời hạn gửi về Cơ quan cấp trên để tổng hợp báo cáo. Qua 06 kỳ báo cáo thống kê liên ngành, Phòng 11 nhận thấy việc thực hiện lập báo cáo thống kê, gửi báo cáo về Phòng 11 để tổng hợp 02 cấp còn chậm so với thời gian quy định. Đề nghị các đơn vị tiếp tục quán triệt thực hiện nghiêm túc./. Nguyễn Viết Hạnh - Trưởng phòng 11
Ý kiến bạn đọc