Vào lúc 14 giờ ngày 12 tháng 6 năm 2015, Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom đã phối hợp với Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom tổ chức phiên tòa rút kinh nghiệm vụ án: “Yêu cầu hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ” giữa: Nguyên đơn: Bà Dương Sỳ, sinh năm: 1919 Trú tại: số 6/1/2 ấp Tân Việt, xã Bàu Hàm, huyện Trảng Bom, Đồng Nai. Bà Dương Sỳ ủy quyền cho bà Chắng Lục Múi, sinh năm 1955. Trú tại: số 828 ấp Tân Việt, xã Bàu Hàm, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai. Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của bà Sỳ là: Luật sư Nguyễn Xuân Trường, Đoàn luật sư tỉnh Đồng Nai. Bị đơn: Anh Chằng Hạn Xương, sinh năm: 1969 và bà Lồ Sìn Dính, sinh năm 1968. Trú tại: số 29 Tân Việt, xã Bàu Hàm, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai. Phiên tòa có sự tham dự của lãnh đạo Viện, kiểm sát viên, kiểm tra viên và chuyên viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom. Nguyên đơn trong vụ án là Bà Dương Sỳ khởi kiện nội dung như sau: Bà Sỳ và ông Chắng Bao Lâm là vợ chồng. Ông Chắng Bao Lâm đã chết năm 2013. Trong thời gian chung sống bà và ông Lâm có tạo dựng được tài sản chung gồm 01 thửa đất có diện tích 368m 2 trên đất có căn nhà gỗ thuộc thửa đất số 718, tờ bản đồ số 7 và 01 thửa đất rẫy trồng cà phê có diện tích 18.980 m 2 thuộc thửa đất số 321, tờ bản đồ số 02, ấp Tân Việt, xã Bàu Hàm, huyện Trảng Bom. Ngày 11/01/2014 bà và ông Lâm đã lập hợp đồng tặng cho anh Chắng Hạn Xương và chị Lồ Sìn Dính quyền sử dụng diện tích 368m 2 đất, trên đất có 01 căn nhà gỗ thuộc thửa đất 718, tờ bản đồ số 07 và diện tích 6.493m 2 đất trồng cà phê thuộc thửa đất 321, tờ bản đồ số 02 xã Bàu Hàm, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai với điều kiện anh Xương và chị Dính phải nuôi dưỡng chăm sóc vợ chồng bà và chị Chắng Ửng Múi. Đến ngày 14/3/2011 Uỷ ban nhân dân huyện Trảng Bom đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho anh Chắng Hạn Xương và chị Lồ Sìn Dính. Tuy nhiên sau khi hợp đồng tặng cho đã được thực hiện thì anh Xương và chị Dính không thực hiện điều kiện của hợp đồng nên nay bà khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết tuyên huỷ 02 hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất được xác lập ngày 04/01/2011, buộc anh Chắng Hạn Xương và Lồ Sìn Dính phải trả lại cho bà quyền sử dụng đất và tài sản trên đất thuộc thửa đất số 718, tờ bản đồ số 07 và thửa đất số 321, tờ bản đồ số 02 xã Bàu Hàm, huyện Trảng Bom. Kết quả xét xử, HĐXX Toà án nhân dân huyện Trảng Bom đã căn cứ: Khoản 3 điều 25, điều 6, điều 79 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 đã được sửa đổi bổ sung năm 2011. Áp dụng điều 467, điều 470, điều 722 Bộ luật dân sự năm 2005. Căn cứ pháp lệnh án phí, lệ phí Toà án Tuyên xử: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Dương Sỳ đối với ông Chắng Hạn Xương và bà Lồ Sìn Dính, về việc: “Xin huỷ hợp đồng tặng cho tài sản” Qua công tác kiểm sát giải quyết vụ án nêu trên, VKSND huyện Trảng Bom đã phát hiện những vi phạm của Toà án trong quá trình giải quyết vụ án dân sự nêu trên, cụ thể: Toà án không điều tra làm rõ bị đơn vi phạm điều kiện của hợp đồng tặng cho tài sản từ khi nào để xác định thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự mà thụ lý giải quyết là vi phạm khoản 3 điều 159 Bộ luật tố tụng dân sự. Bởi lẽ ngay trong đơn khởi kiện, giấy xác nhận của những người có quyền và nghĩa vụ liên quan, tại phiên toà nguyên đơn đều xác nhận thời điểm bị đơn vi phạm điều kiện của hợp đồng tặng cho là ngay sau khi thực hiện hợp đồng (ngày 14/3/2011) mà đến ngày 24/6/2014 nguyên đơn mới nộp đơn khởi kiện (03 năm 03 tháng 10 ngày) như vậy là đã hết thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự: “Xin huỷ hợp đồng tặng cho tài sản”. Về nhận đơn khởi kiện và thu thập chứng cứ: Ngày 24/6/2014 bà Dương Sỳ nộp đơn khởi kiện, kèm theo đơn khởi kiện bà Dương Sỳ giao nộp cho Toà án những tài liệu: “Chứng minh nhân dân, hộ khẩu, giấy uỷ quyền, giấy xác nhận, biên bản làm việc, thông báo”. Ngày 07/7/2014 bà Dương Sỳ làm đơn bổ sung đơn khởi kiện và không bổ sung thêm tài liệu gì khác. Ngày 11/7/2014 Toà án nhân dân huyện Trảng Bom ban hành thông báo thụ lý vụ án số 105/TB-TLVA xác định tài liệu các đương sự giao nộp có: “02 Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất xác lập ngày 04/01/2011 giữa ông Chắng Bao Lâm và bà Dương Sỳ cho ông Chắng Hạn Xương và bà Lồ Sìn Dính, trích lục bản đồ địa chính thửa đất, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ( tất cả là bản phô tô có đóng dấu treo của VPĐKQSDĐ tỉnh Đồng Nai- chi nhánh Trảng Bom”. Tuy nhiên đến ngày 15/12/2014 Toà án lấy lời khai của chị Chắng Lục Múi ( người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn và là người có quyền và nghĩa vụ liên quan) thì Toà án còn yêu cầu chị Chắng Lục Múi: “Cung cấp toàn bộ hồ sơ chuyển nhượng về việc tặng cho tài sản giữa bà Sỳ, ông Lâm với anh Xương, chị Dính xác lập ngày 04/01/2011 được lưu trữ tại Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đồng Nai- Chi nhánh huyện Trảng Bom”. Như vậy khi nộp đơn khởi kiện người khởi kiện đã không kèm theo các tài liệu chứng cứ chứng minh là họ có quyền khởi kiện và những yêu cầu của họ là có căn cứ và hợp pháp nhưng Toà án vẫn thụ lý vụ án và sau khi thụ lý vụ án được hơn 05 tháng Toà án mới yêu cầu đương sự giao nộp chứng cứ là vi phạm điều 165 Bộ luật tố tụng dân sự và điều 6 Nghị quyết 05/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao. Quan hệ pháp luật được Toà án xác định là: “Xin huỷ hợp đồng tặng cho tài sản”. Tuy nhiên chứng cứ mà nguyên đơn giao nộp chỉ là hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất (bản phô tô) không có công chứng, chứng thực hợp pháp nhưng Toà án vẫn dùng để làm căn cứ giải quyết vụ án là thu thập chứng cứ chưa đầy đủ là vi phạm điều 83, điều 85 Bộ luật tố tụng dân sự. Tại biên bản hoà giải ngày 19/3/2015 ông Xương và bà Dính khai nhận: “Trong trường hợp Toà án chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn thì yêu cầu phải thanh toán chi phí công sức ông Xương, bà Dính đã duy trì, cải tạo, chăm sóc đất, cây trồng trên đất và chi phí nuôi dưỡng và lo hậu sự cho ông Lâm, chi phí nuôi dưỡng bà Sỳ tương đương với giá trị tài sản ông Lâm, bà Sỳ đã cho ông Xương, bà Dính là 1.147.920.000 đồng” nhưng Toà án không hướng dẫn ông Xương, bà Dính làm đơn khởi kiện và thụ lý yêu cầu phản tố của ông Xương, bà Dính là vi phạm điều 178 Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên toà ngày 12/6/2015 và ngày 15/6/2015, người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn, luật sư người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn, bị đơn và những người có quyền và nghĩa vụ liên quan đều thừa nhận bà Dương Sỳ ( là nguyên đơn trong vụ án) không còn minh mẫn, sáng suốt, lúc nhớ, lúc quên. Toà án đã yêu cầu các đương sự đưa bà Sỳ đi giám định năng lực hành vi của bà Sỳ nhưng các đương sự không đồng ý nên Toà án đã chấp nhận giấy uỷ quyền của bà Dương Sỳ cho chị Chắng Lục Múi tham gia tố tụng là vi phạm điều 57 Bộ luật tố tụng dân sự. Mặt khác tại phần quyết định của bản án tuyên không rõ ràng, quyết định tuyên: “Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Dương Sỳ đối với ông Chắng Hạn Xương và bà Lồ Sìn Dính, về việc: “ Xin huỷ hợp đồng tặng cho tài sản” nhưng không thể hiện rõ đó là hợp đồng nào, tài sản đó là tài sản gì, được ký kết với ai. Từ những vi phạm nêu trên, ngày 29/6/2015 Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom đã ban hành quyết định kháng nghị toàn bộ bản án của Toà án nhân dân huyện Trảng Bom đề nghị Toà án nhân dân Tỉnh Đồng Nai huỷ bản án sơ thẩm xét xử vụ án nêu trên chuyển hồ sơ về cho Toà án nhân dân huyện Trảng Bom giải quyết lại theo thủ tục chung. Những bài học rút ra sau khi tham gia phiên toà dân sự rút kinh nghiệm nêu trên: Để thực hiện tốt vai trò của mình tại phiên toà dân sự, Kiểm sát viên cần nắm vững các quy định của pháp luật, phải vận dụng tất cả các kỹ năng của mình như: Lắng nghe, quan sát, đặt câu hỏi, xử lý tình huống phát sinh tại phiên toà Kiểm sát viên cần có sự chuẩn bị, nghiên cứu hồ sơ hết sức kỹ lưỡng trước khi tham gia phiên tòa. Khi nghiên cứu hồ sơ tham gia phiên toà cần phải nghiên cứu từ thủ tục nhận đơn khởi kiện, thời hiệu khởi kiện, quan hệ pháp luật được Toà án xác định, tư cách pháp lý của những người tham gia tố tụng, về thu thập chứng cứ. Hoạt động này có ý nghĩa quan trọng, quyết định hiệu quả tham gia phiên tòa của Kiểm sát viên để làm cơ sở phát biểu chính xác việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng khác. Tại phiên toà kiểm sát viên cần chủ động tham gia xét hỏi nhằm kiểm tra lại thủ tục tố tụng mà Toà án đã áp dụng trong quá trình giải quyết án, kiểm tra tính có căn cứ, tính khách quan của những chứng cứ, tài liệu mà các đương sự giao nộp. Sau khi kết thúc phiên toà kiểm sát viên cần báo cáo lại lãnh đạo Viện kết quả phiên toà và quan điểm của kiểm sát viên đối với bản án để kịp thời kháng nghị bản án (nếu có vi phạm) nhằm đảm bảo bản án của Toà án tuân thủ đúng quy định của pháp luật. Trên đây là những bài học kinh nghiệm tôi rút ra từ một vụ án dân sự mà tôi tham dự rút kinh nghiệm theo kế hoạch công tác năm của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom. Xin chia sẻ cùng đồng nghiệp./. Phạm Thị Kiều Diễm- VKSN Trảng Bom
Ý kiến bạn đọc