Tiếp tục kiện toàn đội ngũ cán bộ làm công tác kiểm sát thi hành án dân sự, tăng cường công tác phối hợp liên ngành trong thi hành án dân sự. Viện kiểm sát hai cấp đã rà soát cán bộ làm công tác kiểm sát thi hành án dân sự, hành chính đảm bảo tăng về số lượng so với trước đây, nâng cao về chất lượng kiểm sát viên; báo cáo danh sách Lãnh đạo viện phụ trách, kiểm sát viên, kiểm tra viên, chuyên viên để kịp thời theo dõi chỉ đạo. Tổ chức tổng kết quy chế phối hợp liên ngành trong công tác thi hành án dân sự đề ra nhiệm vụ phối hợp cụ thể cho từng ngành đảm bảo sự phối hợp hiệu quả hơn, giải quyết kịp thời các vụ việc thi hành án có giá trị tài sản lớn, phức tạp, có khó khăn vướng mắc trong áp dụng pháp luật và rà soát về tiến độ thi hành án. Viện kiểm sát hai cấp tăng cường kiểm sát việc giao nhận bản án quyết định của Tòa án, việc ban hành quyết định thi hành án, việc gửi quyết định thi hành án cho Viện kiểm sát và tống đạt, niêm yết cho các đương sự đảm bảo đầy đủ, kịp thời đúng quy định. Thực hiện hướng dẫn của Viện kiểm sát nhân dân tối cao về việc báo cáo các chuyên đề nghiệp vụ kiểm sát thi hành án “Thực trạng và giải pháp nâng cao vai trò, trách nhiệm của Viện kiểm sát trong kiểm sát các vụ việc cưỡng chế tài sản thi hành án là đất đai, nhà ở” và chuyên đề “Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng kiến nghị, kháng nghị trong công tác kiểm sát thi hành án dân sự”. Tăng cường công tác kiểm sát các vụ, việc thi hành án có đơn thư, khiếu nại tố cáo do các cơ quan cấp trên chuyển về làm rõ nội dung đơn để kết luận đúng sai.Trong 10 tháng đầu năm Viện kiểm sát hai cấp đã ban hành 08 kháng nghị, 19 kiến nghị về các vi phạm của Chấp hành viên, cơ quan thi hành án dân sự, tổ chức cá nhân có liên quan, tiến hành kiểm sát trực tiếp 06 tháng đầu năm 2017 tại Cục thi hành án dân sự và 11 Chi cục thi hành án dân sự cấp huyện. Phòng 11, Viện kiểm sát tỉnh đã tiến hành kiểm sát hồ sơ thi hành án chưa có điều kiện thi hành tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Tân Phú do có đơn khiếu nại, qua kiểm sát thấy việc ra quyết định chưa có điều kiện thi hành án là vi phạm thời hạn tự nguyện thi hành án (CHV xác minh điều kiện thi hành án trong thời hạn 10 ngày người phải thi hành án tư nguyện thi hành án); nội dung quyết định về việc chưa có điều kiện thi hành án không ghi nội dung việc thi hành án bị hoãn thi hành theo khoản 3 điều 9 Nghị định 62/CP của Chính phủ. Viện kiểm sát đã tiến hành xác minh thực tế điều kiện thi hành án của người phải thi hành án có tài sản đảm bảo thi hành án nên việc xác minh của CHV là không chính xác, do vậy đã ban hành văn bản kháng nghị yêu cầu Chi cục trưởng chi cục thi hành án dân sự huyện Tân phú thu hồi quyết định về việc không có điều kiện thi hành án để tiếp tục tổ chức thi hành án. Văm bản kháng nghị của Viện kiểm sát được cơ quan thi hành án dân sự chấp nhận, tổ chức thực hiện. Tiến hành trực tiếp hồ sơ thi hành án của Chi cục thi hành án dân sự huyện Nhơn Trạch do người được thi hành án khiếu nại việc CHV áp dụng biện pháp bảo đảm, ngăn chặn việc tạm dừng chuyển quyền sử dụng đất, tiếp tục thẩm định giá tài sản đã được Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất tỉnh Đồng Nai cho chuyển quyền, sang tên. Qua kiểm sát phát hiện CHV vi phạm trong việc thỏa thuận thi hành án giao tài sản thi hành án cho người được thi hành án để cấn trừ nợ ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của những người thi hành án khác; vi phạm trong việc giải biên tài sản đã kê biên cho người được thi hành án, vi phạm trong việc áp dụng biện pháp ngăn chặn, đảm bảo thi hành án, thẩm định giá tài sản không phải do người phải thi hành án đứng tên. Viện kiểm sát đã ban hành kiến nghị yêu cầu Chi cục trưởng chi cục thi hành án huyện Nhơn Trạch thu hồi các văn bản ban hành trái quy định, kiểm điểm CHV vi phạm trong quá trình tổ chức thi hành án. Thực hiện chỉ đạo của Vụ 11 Viện kiểm sát nhân dân tối cao về tăng cường kiểm sát đối với các vụ, việc thi hành án áp dụng biện pháp đảm bảo, cưỡng chế tài sản là đất đai, nhà ở, các việc chưa giao tài sản cho người mua tài sản trúng đấu giá, phòng 11 Viện kiểm sát tỉnh đã kiểm sát trực tiếp tại 05 chi cục thi hành án dân sự cấp huyện. Qua kiểm sát thấy rằng việc áp dụng biện pháp bảo đảm, ngăn chặn chuyển dịch quyền sở hữu, quyền sử dụng về đất đai tài sản còn tùy tiện chưa tuân thủ đúng về thời gian áp dụng, thời gian thay đổi hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, áp dụng biện pháp ngăn chặn với tài sản chưa tương xứng với nghĩa vụ thi hành án, chưa xác minh dấu hiệu đương sự tẩu tán tài sản trốn tránh nghĩa vụ thi hành án. Đối với các vụ việc chưa giao tài sản cho người trúng đấu giá là vi phạm thời hạn giao tài sản theo quy định tại Luật thi hành án dân sự (có vụ việc đã kéo dài nhiều năm) không thực hiện gửi tiền tiết kiệm ảnh hưởng đến quyền lợi của người mua tài sản. Viện kiểm sát đã ban hành văn bản kiến nghị yêu cầu Chi cục trưởng chi cục thi hành án phải nhanh chóng giao tài sản cho người trúng đấu giá, khắc phục các vi phạm trong hồ sơ thi hành án. Qua công tác kiểm sát thi hành án dân sự, hành chính, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai thấy khó khăn vướng mắc trong công tác kiểm sát thi hành án dân sự như sau: -Đối với việc ưu tiên thanh toán tiền thi hành án theo quy định tại điều 47 Luật thi hành án dân sự. Khoản 2 quy định trường hợp có nhiều người được thi hành án thì việc thanh toán theo thứ tự ưu tiên quy định tại khoản 1 và quy định số tiền thi hành án thu theo quyết định cưỡng chế nào thì thanh toán cho người được thi hành án theo các quyết định thi hành án tính đến thời điểm có quyết định cưỡng chế đó…Thực tế nhiều việc sau khi bán tài sản thu được tiền, nhưng CHV không phân chia được do số tiền không đủ cho các nghĩa vụ thi hành án, mà thanh toán theo tỷ lệ sẽ phát sinh khiếu kiện do sai sót đối tượng thanh toán, Việc phân công CHV tách rời giữa thi hành án chủ động và thi hành án theo yêu cầu nên khi thu được tiền thi hành án thời gian quá lâu CHV không thể thống kê hết các nghĩa vụ thi hành án dẫn đến việc phân chia có sai sót phải bồi thường. Trong nhiều hồ sơ thi hành án CHV ban hành quyết định cưỡng chế nhưng không tổ chức cưỡng chế ngay , sau đó phát sinh nghĩa vụ thi hành án từ các bản án khác dẫn đến những người có quyền yêu cầu thi hành án sau này sẽ không còn tài sản để kê biên, xử lý, không được phân phối tiền thu được từ bán tài sản của quyết định cưỡng chế trước. Cũng theo quy định tại điều 47 Luật thi hành án dân sự thì trong thời hạn 10 ngày kể từ nhận được tiền, tài sản thi hành án, CHV phải thực hiện việc thanh toán tiền, nhưng điều 27 Nghị định 62/CP lại quy định thời hạn 10 ngày kể từ ngày giao tài sản cho người trúng đấu giá, trường hợp người mua tài sản trúng đấu giá thống nhất với người được thi hành án chi trả tiền thi hành án khi chưa giao được tài sản thì có chi trả được không, quy định như trên có mâu thuẫn giữa Luật thi hành án dân sự và Nghị định 62/CP không. -Đối với việc tổ chức thi hành án các khoản vay bảo đảm, thế chấp trong quá trình thi hành án nhiều tổ chức tín dụng ngân hàng tự thu tiền nợ mà không qua CHV mặc dù đã có đơn yêu cầu thi hành án và quyết định thi hành án, tổ chức tín dụng, ngân hàng có được phép thu và có văn bản gửi cơ quan thi hành án, CHV thu phí và trách nhiệm của cơ quan thi hành án và CHV trong trường hợp không thu phí thi hành án, việc tính tiền nợ gốc và lãi suất phát sinh được tính thu nợ gốc trước, lãi phát sinh sau để đảm bảo quyền lợi cho người phải thi hành án hay thu nợ thông thường cả gốc và lãi phát sinh. -Đối với các khoản thu dự án phí, tiền thu trong các vụ án, thu tiền thi hành án từ các trại giam chuyển đến… Cơ quan thi hành án có số dư tài khoản tạm gửi tại kho bạc nhà nước tồn nhiều năm với số lượng vụ, việc và số tiền lớn nhưng không xử lý được do không có bản án quyết định của Tòa án và quyết định thi hành án. Các vụ việc tồn đọng hàng chục năm nhưng do danh sách vụ việc không rõ ràng, chi tiết nên không xử lý dứt điểm. Mặc dù tiền trong tài khoản tạm gửi Kho bạc nhưng cũng đã có trường hợp xảy ra tiêu cực thất thoát do Kho bạc không kiểm soát tốt công tác chi mà chỉ thực hiện theo đề nghị của cơ quan thi hành án dân sự. -Về thẩm quyền thi hành án theo quy định tại điều 35 luật thi hành án dân sự: Điểm 1 khoản 2 quy định cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh có thẩm quyền thi hành những bản án, quyết định quy định tại khoản 1 điều này mà có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài hoặc cần phải ủy thác tư pháp về thi hành án. Vậy đương sự và tài sản ở nước ngoài có đồng nhất với đương sự là người nước ngoài và tài sản để thi hành án là tài sản của người nước ngoài không thì chưa được quy định rõ, người nước ngoài sang làm ăn tại Việt nam và tài sản của họ trên lãnh thổ Việt nam thì cơ quan thi hành án tỉnh hay thi hành án huyện có thẩm quyền thi hành án. Mặt khác điểm h khoản 2 Luật thi hành án dân sự quyđịnh bản án, quyết định thuộc thẩm quyền thi hành án của cơ quan thi hành án cấp huyện quy định tại khoản 1 điều này mà thấy cần thiết lấy lên để thi hành án… nhưng không quy định rõ lấy lên trong giai đoạn nào để việc thi hành án được kịp thời, liên tục đảm bảo yêu cầu của các bên đương sự. -Về việc kiểm sát hoạt động thẩm định giá, bán đấu giá tài sản để thi hành án. Về thời hiệu của chứng thư thẩm định giá quy định thời gian 6 tháng trong khi việc bán đấu giá tài sản có thể kéo dài nhiều năm thì hết thời gian 6 tháng có phải thẩm định giá lại hay không. Trong quá trình bán đấu giá các bên đương sự có quyền thẩm định giá lại tại các tổ chức thẩm định giá khác nhau. Kết quả giá trị tài sản tại các chứng thư thẩm định giá có thể tăng giảm nhiều lần thì chứng thư nào mới đảm bảo giá trị chính xác và cơ quan nào làm trọng tài trong việc xác định giá tài sản thi hành án. Hiện nay trong quá trình bán đấu giá tài sản thi hành án, các trung tâm bán đấu giá có mời Kiểm sát viên tham gia phiên đấu giá. Có đơn vị cử Kiểm sát viên tham gia nhưng cũng có đơn vị không tham gia vì lý do không được kiểm sát hồ sơ bán đấu giá nên không thể có quan điểm chính xác trong phiên bán đấu giá. Vậy Kiểm sát viên có tham gia phiên bán đấu giá và khi tham gia thì có quyền yêu cầu gì với cơ quan thi hành án và Trung tâm bán đấu giá. Việc khiếu nại liên quan đến hoạt động bán đấu giá tài sản rất nhiều nhưng cơ quan thi hành án cho rằng thẩm quyền giải quyết thuộc về trung tâm bán đấu giá nên thực hiện việc chuyển đơn, Viện kiểm sát thực hiện quyền yêu cầu cung cấp hồ sơ bán đấu giá nhưng việc cung cấp thường pho to tài liệu nên không đầy đủ gây khó khăn trong kết luận, vậy phải có biện pháp gì để thực hiện công tác kiểm sát đơn trong họat động bán đấu giá tài sản thi hành án. -Việc kiến nghị xử lý kỷ luật đối với Chấp hành viên có vi phạm nghiệp vụ thi hành án Đối với các trường hợp qua kiểm sát phát hiện Chấp hành viên có vi phạm như không thực hiệc các biện pháp đảm bảo, cưỡng chế thi hành án dẫn đến khó khăn trong tổ chức thi hành án như người phải thi hành án tẩu tán tài sản, cho tặng người thân thích… thì Viện kiểm sát có được kiến nghị cơ quan thi hành án kiểm điểm xử lý kỷ luật Chấp hành viên hay chỉ kiến nghị các sai phạm của Chấp hành viên và yêu cầu có biện pháp khắc phục là đủ. -Việc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại điều 20 Luật thi hành án dân sự: Khoản 8 điều 20 Luật thi hành án dân sự quy định về nhiệm vụ quyền hạn của Chấp hành viên: Quyết định áp dụng biện pháp cưỡng chế để thu hồi tiền, tài sản đã chi trả cho đương sự không đúng quy định của pháp luật… Luật thi hành án dân sự cũng đã quy định trong quá trình tổ chức thi hành bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật, nếu người phải thi hành án có tài sản mà không tự nguyện thi hành án, thì sau thời hạn 10 ngày sẽ bị cưỡng chế thi hành án. Việc cưỡng chế thi hành án đã được quy định tại mục 2, mục 3 của Luật thi hành án dân sự. Trường hợp cưỡng chế để thu hồi tiền, tài sản đã chi trả cho đương sự không đúng quy định của pháp luật theo quy định tại khoản 8 điều 20 nêu trên thì chưa được hướng dẫn cụ thể về thủ tục các bước tiến hành nên thực tế gặp khó khăn vướng mắc trong tổ chức thực hiện, như có khởi kiện vụ việc ra Tòa án không hoặc Cơ quan thi hành án dân sự có ban hành quyết định thu hồi tiền, tài sản đã chi sai để đương sự tự nguyên thi hành trong thời hạn 10 ngày, nếu không tự nguyện thì thực hiện cưỡng chế? Cách thức cưỡng chế thi hành án trong trường hợp này thực hiện thế nào, bởi thực chất họ không phải là người phải thi hành án, việc chi sai là do lỗi của Chấp hành viên… Nguyễn Viết Hạnh – TP11
Ý kiến bạn đọc