Thực hiện Chỉ thị số 01/CT-VKSTC ngày 25/12/2015 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao về công tác của ngành kiểm sát nhân dân năm 2016, Viện kiểm sát nhân dân 02 cấp tỉnh Đồng Nai đã tập trung nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra nhằm không bỏ lọt tội phạm, không làm oan sai, hạn chế đến mức thấp nhất các trường hợp đã phê chuẩn khởi tố nhưng sau đó phải đình chỉ điều tra do bị can không phạm tội hoặc các trường hợp Viện kiểm sát ra Quyết định truy tố nhưng Tòa án tuyên bị cáo không phạm tội. Thực hiện kiểm sát và quản lý các vụ án, bị can, bị cáo đình chỉ của các cơ quan tiến hành tố tụng 02 cấp đảm bảo đúng quy định. Qua theo dõi, kiểm tra, tổng hợp án đình chỉ của các Cơ quan tiến hành tố tụng 02 cấp tỉnh Đồng Nai năm 2016, kết quả như sau: 1/ Án đình chỉ của Cơ quan điều tra: * Tổng số: Tổng số: 4 7 vụ - 96 bị can/2.274 vụ - 3.4740 bị can (chiếm tỉ lệ 2,06% số vụ và 2,76% số bị can) đã giải quyết, bao gồm: - Cơ quan điều tra (PC45) Công an tỉnh: 07 vụ - 12 bị can; - Biên Hòa: 07 vụ - 08 bị can; - Long Khánh: 04 vụ - 08 bị can; - Long Thành: 02 vụ - 07 bị can; - Thống Nhất: 05 vụ - 10 bị can; - Trảng Bom: 01 vụ - 02 bị can; - Tân Phú: 04 vụ - 06 bị can; - Vĩnh Cửu: 06 vụ - 07 bị can; - Cẩm Mỹ: 03 vụ - 10 bị can; - Nhơn Trạch: 06 vụ - 22 bị can; - Xuân Lộc: 02 vụ - 04 bị can. * Phân loại: - Đình chỉ miễn TNHS theo khoản 1 Điều 25 BLHS: 11 vụ - 5 4 bị can (trong đó PC45: 01 vụ - 05 bị can; Biên Hòa: 0 vụ - 01 bị can; Long Khánh: 01 vụ - 05 bị can; Tân Phú: 01 vụ - 02 bị can; Long Thành: 01 vụ - 06 bị can; Thống Nhất: 03 vụ - 08 bị can; Vĩnh Cửu: 01 vụ - 01 bị can; Cẩm Mỹ: 0 vụ - 07 bị can; Nhơn Trạch 03 vụ - 19 bị can); - Đình chỉ miễn TNHS theo khoản 2 Điều 25 BLHS: 01 vụ - 01 bị can (PC 45 – CA tỉnh); - Đình chỉ do người bị hại rút yêu cầu khởi tố theo khoản 2 Điều 105 BLTTHS: 22 vụ - 26 bị can (trong đó: Biên Hòa: 04 vụ - 05 bị can; Xuân Lộc: 02 vụ - 03 bị can; Vĩnh Cửu: 05 vụ - 06 bị can; Thống Nhất: 01 vụ - 01 bị can; Tân Phú: 02 vụ - 03 bị can; Nhơn Trạch: 02 vụ - 02 bị can; Cẩm Mỹ: 02 vụ - 02 bị can; Long Khánh: 03 vụ - 03 bị can; Trảng Bom: 01 vụ - 01 bị can); - Đình chỉ theo khoản 2 Điều 107 BLTTHS: 09 vụ - 10 bị can, trong đó: + Đình chỉ do hành vi không cấu thành tội phạm: 03 vụ - 04 bị can (PC45: 01 vụ - 01bị can; Nhơn Trạch: 01 vụ - 01 bị can; Biên Hòa: 01 vụ - 0 bị can, Trảng Bom 0 vụ - 01 bị can, Xuân Lộc 0 vụ - 01 bị can). + Đình chỉ do bị can mắc bệnh tâm thần, không có năng lực chịu TNHS: 06 vụ - 06 bị can (PC45: 03 vụ - 03 bị can; Cẩm Mỹ: 01 vụ - 01 bị can; Biên Hòa: 01 vụ - 01 bị can, Tân Phú: 01 vu – 01 bị can). - Đình chỉ do hết thời hạn điều tra mà không chứng minh được bị can đã thực hiện tội phạm theo điểm b khoản 2 Điều 164 BLTTHS: 01 vụ - 02 bị can (PC45 – CA tỉnh). - Đình chỉ do bị can chết theo khoản 7 Điều 107 BLTTHS: 0 3 vụ - 0 3 bị can (Long Thành: 01 vụ - 01 bị can; Thống Nhất: 01 vụ - 01 bị can, Biên Hòa 01 vụ - 01 bị can). 2/ Án đình chỉ của Viện kiểm sát: * Tổng số: 42 vụ - 90 bị can/2.010 vụ - 3.336 bị can (chiếm tỉ lệ 2,08% số vụ và 2,69% số bị can) Viện kiểm sát đã giải quyết, bao gồm: - VKS Tỉnh: 04 vụ - 06 bị can; - Biên Hòa: 06 vụ - 17 bị can; - Định Quán: 11 vụ - 25 bị can; - Tân Phú: 02 vụ - 05 bị can; - Long Thành: 05 vụ - 06 bị can; - Cẩm Mỹ: 03 vụ - 09 bị can; - Long Khánh: 04 vụ - 06 bị can; - Nhơn Trạch: 03 vụ - 05 bị can; - Xuân Lộc: 0 vụ - 05 bị can; - Vĩnh Cửu: 0 vụ - 01 bị can; - Thống Nhất: 01 vụ - 01 bị can; - Trảng Bom: 03 vụ - 04 bị can. * Phân loại: - Đình chỉ miễn TNHS theo khoản 1 Điều 25 BLHS: 23 vụ - 61 bị can (VKS tỉnh: 02 vụ - 04 bị can, Tân Phú: 01 vụ - 04 bị can; Cẩm Mỹ: 03 vụ - 09 bị can; Long Khánh: 04 vụ - 06 bị can; Long Thành: 01 vụ - 01 bị can; Xuân Lộc: 0 vụ - 05 bị can; Nhơn Trạch: 01 vụ - 01 bị can; Định Quán: 06 vụ - 16 bị can; Biên Hòa: 04 vụ - 13 bị can; Trảng Bom: 01 vụ - 02 bị can); - Đình chỉ miễn TNHS theo khoản 2 Điều 25 BLHS: 03 vụ - 03 bị can (VKS tỉnh 02 vụ - 02 bị can; Trảng Bom 01 vụ - 01 bị can); - Đình chỉ do người bị hại rút yêu cầu khởi tố theo khoản 2 Điều 105 BLTTHS: 13 vụ - 20 bị can (Biên Hòa: 01 vụ - 02 bị can; Long Thành: 04 vụ - 05 bị can; Định Quán: 04 vụ - 07 bị can; Nhơn Trạch: 02 vụ - 04 bị can; Tân Phú: 01 vụ - 01 bị can; Trảng Bom: 01 vụ - 01 bị can); - Đình chỉ theo khoản 2 Điều 107 BLTTHS: 03 vụ - 04 bị can, trong đó: + Đình chỉ do bị can bị mắc bệnh tâm thần: 02 vụ - 02 bị can (Định Quán: 01 vụ - 01 bị can; Thống Nhất: 01 vụ - 01 bị can). + Đình chỉ do hành vi không cấu thành tội phạm: 01 vụ - 02 bị can (Biên Hòa). - Đình chỉ miễn TNHS theo khoản 2 Điều 69 BLHS: 0 vụ - 01 bị can (Vĩnh Cửu). - Đình chỉ do người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã chết theo khoản 7 Điều 107 BLTTHS: 0 vụ - 01 bị can (Định Quán). 3/ Án đình chỉ của Tòa án: * Tổng số: 15 vụ - 37 bị cáo/1.996 vụ - 3.222 bị cáo (chiếm tỉ lệ 0,75% số vụ và 1,14% số bị can, bị cáo Tòa án đã giải quyết), bao gồm: - Biên Hòa: 05 vụ - 19 bị cáo; - Tân Phú: 03 vụ - 07 bị cáo; - Long Thành: 02 vụ - 04 bị cáo; - Trảng Bom: 01 vụ - 02 bị cáo; - Cẩm Mỹ: 01 vụ - 01 bị cáo; - Nhơn Trạch: 02 vụ - 03 bị cáo; - Xuân Lộc: 01 vụ - 01 bị cáo. * Phân loại: - Đình chỉ miễn TNHS theo khoản 1 Điều 25 BLHS: 05 vụ - 20 bị cáo (Trảng Bom: 01 vụ - 02 bị cáo; Tân Phú: 01 vụ - 05 bị cáo; Biên Hòa: 02 vụ - 11 bị cáo, Long Thành 01 vụ - 02 bị cáo); - Đình chỉ do người bị hại rút yêu cầu khởi tố theo khoản 2 Điều 105 BLTTHS: 08 vụ - 14 bị cáo (Biên Hòa: 02 vụ - 07 bị cáo, Tân Phú: 02 vụ - 02 bị cáo, Trảng Bom: 02 vụ - 03 bị cáo, Long Thành 01 vụ - 01 bị cáo, Xuân Lộc 01 vụ - 01 bị cáo); - Đình chỉ do bị cáo mắc bệnh tâm thần, không có năng lực chịu TNHS theo khoản 2 Điều 107 BLTTHS: 01 vụ - 02 bị cáo (Long Thành: 0 vụ - 01 bị cáo; Cẩm Mỹ: 01 vụ - 01 bị cáo); - Đình chỉ do người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã chết theo khoản 7 Điều 107 BLTTHS: 01 vụ - 01 bị cáo (Biên Hòa). Nhìn chung các vụ án, bị can, bị cáo do Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án 02 cấp tỉnh Đồng Nai đình chỉ đều đảm bảo có căn cứ và đúng pháp luật. Số vụ án, bị can đình chỉ do không phạm tội theo khoản 1, khoản 2 Điều 107 và điểm b khoản 2 Điều 164 Bộ luật tố tụng hình sự 05 vụ - 08 bị can/104 vụ - 223 bị can, chiếm tỉ lệ 4,80% số vụ và 3,58% số bị can được đình chỉ (Cơ quan điều tra đình chỉ 04 vụ - 06 bị can, VKS đình chỉ 01 vụ - 02 bị can). Một số đơn vị đã thực hiện tốt việc kiểm sát Quyết định đình chỉ của Cơ quan điều tra, Tòa án cùng cấp về căn cứ đình chỉ, điều luật áp dụng. Qua kiểm sát đã phát hiện kịp thời một số tồn tại thiếu sót của Cơ quan điều tra, Cơ quan Tòa án như vụ Nguyễn Thành Tích – Vi phạm quy định về điều phương tiện giao thông đường bộ do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Xuân Lộc ban hành và áp dụng điều luật đình chỉ không chính xác, Viện kiểm sát Xuân Lộc đã kịp thời ban hành Công văn số 144/KN-VKS-HS ngày 09/05/2016 kiến nghị Cơ quan điều tra sửa lại điều luật áp dụng; vụ Nguyễn Văn Giàu – Cố ý gây thương tích do Tòa án nhân dân huyện Long Thành ra Quyết định đình chỉ vì lý do bị cáo bị mắc bệnh tâm thần nhưng không áp dụng căn cứ đình chỉ theo khoản 2 Điều 107 Bộ luật tố tụng hình sự. Viện kiểm sát đã kịp thời phát hiện yêu cầu Tòa án chỉnh sửa bổ sung đảm bảo đầy đủ đúng quy định. Đa số các vụ án đình chỉ đều được các đơn vị quản lý, theo dõi chặt chẽ và báo cáo kịp thời về Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai (qua Phòng 3). Viện kiểm sát nhân dân tỉnh đã tăng cường ban hành thông báo rút kinh nghiệm đối với Viện kiểm sát cấp huyện, từ đó nâng cao chất lượng hoạt động kiểm sát án đình chỉ đảm bảo chính xác, khách quan trong việc áp dụng pháp luật và đấu tranh phòng chống tội phạm. II. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CẦN RÚT KINH NGHIỆM TRONG CÔNG TÁC THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ, KIỂM SÁT ĐIỀU TRA VÀ KIỂM SÁT ÁN ĐÌNH CHỈ. Qua theo dõi, kiểm tra án đình chỉ của các Cơ quan tiến hành tố tụng 02 cấp tỉnh Đồng Nai năm 2016, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai nhận thấy vẫn còn một số tồn tại, thiếu sót như sau: 1/ Vi phạm của Cơ quan điều tra 1.1. Về các trường hợp đình chỉ do không phạm tội và đình chỉ do hết thời hạn điều tra nhưng không chứng minh được bị can đã thực hiện tội phạm. Có 03 vụ - 04 bị can đình chỉ theo khoản 2 Điều 107 BLTTHS và 01 vụ - 02 bị can đình chỉ theo điểm b khoản 2 Điều 164 BLTTHS. - Vụ Nguyễn Thị Ánh Ngọc – Chống người thi hành công vụ (CQĐT Công an huyện Nhơn Trạch đình chỉ). Do nhận thức và đánh giá chứng cứ của Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát huyện Nhơn Trạch chưa thực hiện theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự dẫn đến việc khởi tố đối với bà Ngọc là không có căn cứ; không thực hiện chế độ báo cáo thỉnh thị đối với cấp trên khi có khó khăn, vướng mắc trong việc đánh giá chứng cứ, tội danh. - Vụ Võ Thị Tuyết Hương – Che giấu tội phạm do CQĐT Công an tỉnh khởi tố sau đó chuyển cho CQĐT Công an huyện Trảng Bom điều tra theo thẩm quyền. Do việc thu thập, đánh giá chứng cứ ban đầu về hành vi phạm tội của Võ Thị Tuyết Hương không đầy đủ, thiếu chặt chẽ, chỉ căn cứ vào lời khai nhận của Hương và các đối tượng liên quan, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định khởi tố bị can, Viện kiểm sát phê chuẩn Quyết định khởi tố bị can đối với Hương. - Vụ Phan Thị Thanh Cúc – Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Do nhận định Phan Thị Thanh Cúc có dấu hiệu bỏ trốn nhằm chiếm đoạt tài sản nên Cơ quan CSĐT (PC45) Công an tỉnh Đồng Nai đã ra quyết định khởi tố bà Cúc về tội danh nêu trên. Quá trình điều tra xác định, sau khi vay tiền của bà Lê Thị Bông trả nợ ngân hàng, Phan Thị Thanh Cúc đã làm thủ tục vay lại ngân hàng số tiền 01 tỉ đồng đưa cho bà Khánh để trả lại cho bà Bông vào ngày 16/12/2009, hai bên có làm giấy biên nhận và có sự chứng kiến của chị Nguyễn Thị Hà nên không có cơ sở xác định Phan Thị Thanh Cúc chiếm đoạt tiền của bà Lê Thị Bông. - Vụ Nguyễn Thành Tích – Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử các cơ quan tố tụng huyện Xuân Lộc nhận định Nguyễn Thành Tích có hành vi điều khiển xe ô tô lấn trái gây tai nạn với xe mô tô đi cùng chiều do Nguyễn Duy Tùng điều khiển gây hậu quả nghiêm trọng làm chị Lày Ngọc Đồng Nhi ngồi sau xe mô tô của Tùng bị tử vong. Vụ án đã được TAND huyện Xuân Lộc đưa ra xét xử sở thẩm tuyên phạt Nguyễn Thành Tích 03 tháng 29 ngày tù. Do bị cáo Tích kháng cáo nên Tòa phúc thẩm đã tuyên hủy án để điều tra lại. Quá trình điều tra lại xác định hành vi của Nguyễn Thành Tích không có lỗi mà là do sự kiện bất ngờ. Tuy nhiên, Cơ quan điều tra không áp dụng khoản 2 Điều 107 Bộ luật tố tụng hình sự để đình chỉ mà lại mà lại áp dụng điểm b khoản 2 Điều 164 Bộ luật tố tụng hình sự để ra Quyết định đình chỉ điều tra bị can đối với Nguyễn Thành Tích là không đúng quy định pháp luật. - Vụ Hoàng Văn Tiến – Giết người. Vụ án do Cơ quan CSĐT Công an huyện Tân Phú (nay là huyện Định Quán) khởi tố và ra Quyết định truy nã đối với Hoàng Văn Tiến về tội Giết người từ năm 1990. Đến ngày 10/08/2015, Hoàng Văn Tiến bị bắt truy nã và được Cơ quan CSĐT (PC44) Công an tỉnh Đồng Nai phục hồi điều tra để xử lý. Tuy nhiên, do hồ sơ, vật chứng của vụ án bị thất lạc không tìm thấy. Quá trình thu thập, củng cố các chứng cứ gặp rất nhiều khó khăn nên việc đánh giá chứng cứ, xác định tội danh Giết người đã khởi tố đối với Hoàng Văn Tiến là chưa đủ cơ sở nên Cơ quan CSĐT đã áp dụng điểm b khoản 2 Điều 164 BLTTHS ra Quyết định đình chỉ điều tra vụ án, đình chỉ điều tra bị can đối với Hoàng Văn Tiến về tội danh trên. - Vụ Ye Guorong (Diệp Quốc Vinh) – Sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm. Tài liệu điều tra ban đầu xác định Ye Guorong có hành vi vận chuyển 22 bọc nilon đựng bột kim loại màu vàng (nghi là vàng) có dấu hiệu sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm nên ngày 11/12/2015, Cơ quan CSĐT (PC45) Công an tỉnh Đồng Nai ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự và Quyết định khởi tố bị can số đối với Ye Guorong về tội “Sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm” theo Điều 155 Bộ luật hình sự. Quá trình điều tra vụ án, một số đối tượng liên quan là người nước ngoài đã bỏ trốn nên Cơ quan điều tra không lấy được lời khai, chưa làm rõ nguồn gốc số bột kim loại có nguồn gốc từ Trung Quốc… do đó chưa đấu tranh làm rõ được hành vi phạm tội của Ye Guorong. Do thời hạn điều tra vụ án đã hết nên CQĐT đã áp dụng điểm b khoản 2 Điều 164 BLTTHS ra Quyết định đình chỉ điều tra bị can đối với Ye Guorong về tội danh trên. 1.2. Vi phạm về việc đình chỉ do người bị hại rút yêu cầu khởi tố Vụ Phạm Thành Vinh – Cố ý gây thương tích do CQĐT CATP Biên Hòa đình chỉ. Khi nhận đơn rút yêu cầu khởi tố của người bị hại, Điều tra viên đã không kiểm tra, hướng dẫn cho bị hại viết lại đơn rút yêu cầu khởi tố để bổ sung đầy đủ các nội dung theo quy định (lý do rút đơn, việc rút đơn là tự nguyện hay do bị ép buộc, cưỡng bức) để làm cơ sở ban hành Quyết định đình chỉ theo khoản 2 Điều 105 BLTTHS đảm bảo có căn cứ, đúng pháp luật. Đơn không có chữ ký và đóng dấu xác nhận của chính quyền địa phương nơi cư trú; Vụ Nguyễn Kiệt Quốc Hùng – Cố ý gây thương tích do CQĐT CA huyện Vĩnh Cửu đình chỉ, đơn rút yêu cầu khởi tố của người bị hại không có xác nhận của chính quyền địa phương. Có một số trường hợp sau khi nhận đơn rút yêu cầu khởi tố của người bị hại, Điều viên đã không lấy lời khai bị hại làm rõ việc rút đơn yêu cầu khởi tố của bị hại có tự nguyện hay bị người khác ép buộc, cưỡng bức và có đủ điều kiện để đình chỉ theo khoản 2 Điều 105 BLTTHS hay không, như vụ Nguyễn Thành Đạt – Cố ý gây thương tích của CQĐT CA huyện Thống Nhất, vụ Lê Văn Lợi – Cố ý gây thương tích của CQĐT CA huyện Vĩnh Cửu. 1.3. Vi phạm, thiếu sót về việc áp dụng căn cứ đình chỉ. - Vụ Nguyễn Văn Đức – Cố ý gây thương tích do CQĐT CA huyện Tân Phú đình chỉ. Quá trình điều tra xác định bị can khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội không có năng lực chịu trách nhiệm hình sự (do bị bệnh tâm thần) thuộc trường hợp “hành vi không cấu thành tội phạm”. Quyết định đình chỉ điều tra bị can Cơ quan điều tra nêu lý do và căn cứ đình chỉ theo quy định tại khoản 1 Điều 13 Bộ luật hình sự mà không nêu lý do và áp dụng căn cứ đình chỉ theo khoản 2 Điều 107 Bộ luật tố tụng hình sự là không đúng quy định. Sau khi Nguyễn Văn Đức được đình chỉ, Viện kiểm sát cũng không ra Quyết định đưa Nguyễn Văn Đức vào cơ sở bắt buộc chữa bệnh hoặc giao Đức cho gia đình trông nom dưới sự giám sát của cơ quan có thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 43 BLHS là thiếu sót. - Vụ Nguyễn Tấn Nghĩa – Mua bán trái phép chất ma túy, bị can chết do bị bệnh nhưng trong Quyết định đình chỉ điều tra vụ án và Quyết định đình chỉ điều tra bị can không nêu căn cứ đình chỉ theo khoản 7 Điều 107 BLTTHS; vụ Phạm Ngọc Xuân cùng đồng phạm – Đánh bạc, Cơ quan CSĐT Công an huyện Long Thành áp dụng Điều 25 BLHS ra Quyết định đình chỉ điều tra vụ án và các Quyết định đình chỉ điều tra bị can miễn trách nhiệm hình sự, nhưng trong quyết định không nêu áp dụng khoản nào của Điều 25 BLHS để miễn trách nhiệm hình sự là thiếu sót và không đúng quy định pháp luật. 1.4. Không thể hiện việc xử lý vật chứng đã thu giữ trong Quyết định đình chỉ theo quy định tại khoản 3 Điều 164 BLTTHS. Vụ Phạm Thành Vinh – Cố ý gây thương tích (CQĐT CATP. Biên Hòa); vụ Nguyễn Tấn Nghĩa – Mua bán trái phép chất ma túy, vụ Phạm Ngọc Xuân cùng đồng phạm – Đánh bạc (CQĐT CA huyện Long Thành); vụ Ngô Xuân Phong – Cố ý gây thương tích, vụ Vũ Thị Ngát – Đánh bạc (CQĐT CA huyện Tân Phú), vụ Nguyễn Kiệt Quốc Hùng – Cố ý gây thương tích (CQĐT CA huyện Vĩnh Cửu); vụ Trần Thị Điệp cùng đồng phạm – Đánh bạc (CQĐT CATX Long Khánh). 1.5. Cơ quan công an không xử lý vi phạm hành chính khi xác định bị can được đình chỉ có dấu hiệu vi phạm hành chính và còn thời hiệu xử lý vi phạm hành chính. Vụ Ngô Xuân Phong – Cố ý gây thương tích, vụ Vũ Thị Ngát – Đánh bạc của CQĐT CA huyện Tân Phú; vụ Lê Văn Lợi, vụ Nguyễn Kiệt Quốc Hùng – Cố ý gây thương tích của CQĐT CA huyện Vĩnh Cửu. 1.6. Không thực hiện việc kiểm sát hồ sơ và Quyết định đình chỉ của Cơ quan điều tra. Hồ sơ kiểm sát không có báo cáo đề xuất của Kiểm sát viên về việc kiểm tra tính có căn cứ và hợp pháp của Quyết định đình chỉ điều tra; không có văn bản của Viện kiểm sát trả lại hồ sơ cho Cơ quan điều tra thể hiện quan điểm đồng ý hay không đồng ý với Quyết định đình chỉ của Cơ quan điều tra theo quy định tại khoản 4 Điều 164 BLTTHS và Điều 39 Quy chế số 07/2009/QĐ-VKSTC ngày 02/01/2008 của Viện trưởng Viện KSND tối cao. Cụ thể: Vụ Phạm Thành Vinh – Cố ý gây thương tích, vụ Nguyễn Thanh Hùng giao cấu với trẻ em, vụ Nguyễn Huỳnh Lâm – Gây rối TTCC (VKS Biên Hòa); vụ Nguyễn Tấn Nghĩa – Mua bán trái phép chất ma túy, vụ Phạm Ngọc Xuân cùng đồng phạm – Đánh bạc (VKS huyện Long Thành); vụ Nguyễn Thành Đạt – Cố ý gây thương tích (VKS huyện Thống Nhất); vụ Nguyễn Văn Đức – Cố ý gây thương tích, vụ Ngô Xuân Phong – Cố ý gây thương tích (VKS huyện Tân Phú); vụ Lê Văn Lợi, vụ Nguyễn Kiệt Quốc Hùng – Cố ý gây thương tích (VKS huyện Vĩnh Cửu); vụ Vòng Vằn Cắm – Đánh bạc, vụ Trương Nhật Trường – Làm nhục người khác (VKS huyện Cẩm Mỹ). 2/ Vi phạm của Viện kiểm sát 2.1. Về các trường hợp đình chỉ do không phạm tội ( 01 vụ - 02 bị can đình chỉ theo khoản 2 Điều 107 BLTTHS). Vụ Nguyễn Văn Túy, Nguyễn Xuân Phú bị cơ quan CSĐT CATP Biên Hòa khởi tố về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường sắt” . Do việc thu thập, đánh giá chứng cứ ban đầu thiếu chặt chẽ, xác định Nguyễn Văn Túy và Nguyễn Xuân Phú (nguyên là lái tàu SE2) đã có hành vi lái tàu vượt qua tín hiệu phòng vệ phía Nam cầu Ghềnh khi đèn tín hiệu không sáng gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng nên CQĐT đã ra Quyết định khởi tố Nguyễn Văn Túy và Nguyễn Xuân Phú về tội danh trên. Quá trình điều tra xác định, s au tai nạn hệ thống đèn tín hiệu đã bị hư hỏng, các bị can Nguyễn Văn Túy và Nguyễn Xuân Phú không thừa nhận đã nhìn thấy đèn báo hiệu nguy hiểm màu đỏ mà cho rằng do nhìn thấy đèn tín hiệu màu lục báo hiệu an toàn nên mới cho xe lửa vào cầu Ghềnh. Tài liệu, chứng cứ không đủ cơ sở chứng minh các bị can Nguyễn Văn Túy và Nguyễn Xuân Phú đã có hành vi vi phạm qui định về điều khiển phương tiện giao thông đường sắt nên Viện kiểm sát TP. Biên Hòa đã ra Quyết định đình chỉ vụ án, Quyết định đình chỉ vụ án đối với các bị can Túy và Phú theo khoản 2 Điều 107 BLTTHS. 2.2. Vi phạm về việc đình chỉ theo yêu cầu của người bị hại. Sau khi tiếp nhận đơn rút yêu cầu khởi tố của người bị hại, Kiểm sát viên không tiến hành lấy lời khai người bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của người bị hại để làm rõ việc rút đơn yêu cầu khởi tố của bị hại có tự nguyện hay bị người khác ép buộc, cưỡng bức để làm cơ sở tham mưu Lãnh đạo Viện ban hành Quyết định đình chỉ đảm bảo chặt chẽ và có căn cứ pháp luật. Cụ thể: vụ Vũ Duy Quang – Cố ý gây thương tích (VKS huyện Tân Phú); vụ Huỳnh Văn Mến – Cố ý gây thương tích (VKS huyện Định Quán). 2.3. Ban hành Quyết định đình chỉ vụ án, quyết định đình chỉ vụ án đối với bị can không theo mẫu quy định. Vụ Vũ Duy Quang – Cố ý gây thương tích, Viện kiểm sát huyện Tân Phú ban hành Quyết định đình chỉ vụ án không theo mẫu số 88 ban hành kèm theo Quyết định số 07 ngày 02/01/2008 của Viện KSND tối cao (không viện dẫn Điều luật khởi tố, không nêu tóm tắt nội dung sự việc); Quyết định đình chỉ vụ án đối với bị can phần nội dung sự việc ghi sơ sài, không nêu tình trạng thương tích, tỉ lệ % thương tích của bị hại; ngày, tháng, năm bị hại có đơn yêu cầu khởi tố và ngày, tháng, năm bị hại có đơn rút yêu cầu khởi tố. Một số vụ án do Viện kiểm sát huyện Định Quán đình chỉ, trong Quyết định đình chỉ vụ án có ghi thêm căn cứ Quyết định khởi tố bị can là không chính xác, quyết định đình chỉ bị can sử dụng tên gọi “Quyết định đình chỉ điều tra đối với bị can” là sai mẫu quy định, nội dung vụ việc còn nêu quá dài mà không nêu tóm tắt (vụ Phạm Vinh Quang – Cố ý gây thương tích, vụ Nguyễn Tiến Lâm cùng đồng phạm, vụ Hoàng Tuấn Anh cùng đồng phạm, vụ Nguyễn Thanh Tuấn cùng đồng phạm, vụ Trần Văn Chi, vụ Lê Trung Thịnh, vụ Đoàn Thị Hòa đều do VKS huyện Định Quán đình chỉ về tội Đánh bạc); vụ Huỳnh Văn Mến – Cố ý gây thương tích của Viện kiểm sát huyện Vĩnh Cửu, trong Quyết định đình chỉ vụ án và Quyết định đình chỉ vụ án đối với bị can ghi thiếu căn cứ Điều 112 BLTTHS và không nêu tóm tắt nội dung sự việc theo mẫu quy định. 2.4. Vi phạm về việc áp dụng căn cứ đình chỉ không đúng, không có báo cáo đề xuất đình chỉ của Kiểm sát viên, để kéo dài thời hạn giải quyết của Viện kiểm sát. Vụ Lê Hoàng Luận cùng đồng phạm – Cố ý gây thương tích do Viện kiểm sát huyện Nhơn Trạch ra Quyết định đình chỉ vì lý do người bị hại rút yêu cầu khởi tố. Tuy nhiên Quyết định đình chỉ của Viện kiểm sát lại áp dụng căn cứ đình chỉ theo khoản 2 Điều 105 Bộ luật hình sự là áp dụng sai bộ luật. Một số hồ sơ không có báo cáo đề xuất đình chỉ của kiểm sát viên như vụ Nguyễn Thị Hương – Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (VKS Cẩm Mỹ); vụ Trương Thanh Phong – Đánh bạc (VKS TX Long Khánh); vụ Phạm Vinh Quang – Cố ý gây thương tích (VKS Định Quán). Một số vụ án Viện kiểm sát ra Quyết định đình chỉ quá thời hạn giải quyết của VKS theo quy định tại Điều 166 BLTTHS, cụ thể: Vụ Nguyễn Thanh Lan – Đánh bạc quá hạn giải quyết 03 tháng 03 ngày (VKS Nhơn Trạch); vụ Trần Văn Chi – Đánh bạc quá hạn giải quyết 01 tháng 25 ngày, vụ Hoàng Tuấn Anh cùng đồng phạm – Đánh bạc quá hạn giải quyết 01 tháng 17 ngày, vụ Nguyễn Thanh Tuấn cùng đồng phạm – Đánh bạc quá hạn giải quyết 02 tháng 09 ngày, vụ Đoàn Thị Hòa – Đánh bạc quá hạn giải quyết 03 tháng (VKS Định Quán). 2.5. Không thể hiện việc xử lý vật chứng đã thu giữ trong Quyết định đình chỉ hoặc ban hành quyết định xử lý vật chứng khi vụ án, bị can đã được đình chỉ theo quy định. Vụ Nguyễn Thanh Lan – Đánh bạc, quyết định đình chỉ vụ án hình sự của VKS huyện Nhơn Trạch không thể hiện phần xử lý vật chứng đã thu giữ gồm: 01 điện thoại di động Nokia, 2.660.000 đồng của bị can Lan và 100.000 đồng của Lê Văn Nam đã sử dụng mua số đề của Lan và cũng không ban hành quyết định xử lý vật chứng khi vụ án, bị can đã được đình chỉ theo quy định. 2.6. Không chuyển hồ sơ, tài liệu và có công văn đề nghị Cơ quan, người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính sau khi xác định bị can được đình chỉ có dấu hiệu vi phạm hành chính và còn thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại Điều 63 Luật Xử lý vi phạm hành chính. Vụ Vũ Duy Quang – Cố ý gây thương tích (VKS Tân Phú), vụ Phạm Vinh Quang – Cố ý gây thương tích, vụ Nguyễn Thanh Tuấn cùng đồng phạm – Đánh bạc (VKS Định Quán), vụ Nguyễn Thanh Lan – Đánh bạc (VKS Nhơn Trạch). 3/ Vi phạm của Toà án 3.1. Ban hành quyết định đình chỉ vụ án không đúng quy định của pháp luật. Vụ Đoàn Thành Duy - Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ. Tại thời điểm gây án, bị can Duy bị can có năng lực hành vi, sau khi gây án Duy bị chấn thương sọ não dẫn đến mất trí, mất năng lực nhận thức và điều khiển hành vi. Tòa án huyện Cẩm Mỹ đã ra quyết định tạm đình chỉ vụ án và quyết định áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh đối với bị can Đoàn Thành Duy. Qua thời gian điều trị, kết quả giám định Pháp y Tâm thần kết luận Đoàn Thành Duy “khó có khả năng hồi phục”. Tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ đã áp dụng điểm b khoản 1 Điều 314 BLTTHS ra quyết định đình chỉ vụ án đối với bị can Đoàn Thành Duy là không đúng và vi phạm nghiêm trọng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bởi vì, Điều 180 Bộ luật tố tụng hình sự quy định Thẩm phán chỉ ra quyết định đình chỉ khi có một trong những căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 105 và các điểm 3, 4, 5, 6 và 7 Điều 107 của Bộ luật tố tụng hình sự; tạm đình chỉ vụ án khi có căn cứ quy định tại Điều 160 của Bộ luật tố tụng hình sự. Do đó, trường hợp này Tòa án phải áp dụng khoản 1 Điều 160 Bộ luật tố tụng hình sự để ra quyết định tạm đình chỉ vụ án mới đúng quy định pháp luật. 3.2. Vi phạm về hình thức ban hành quyết định đình chỉ. Vụ Phạm Văn Cường bị Viện kiểm sát thành phố Biên Hòa truy tố về tội Mua bán trái phép chất ma tuý (khoản 2 Điều 194). Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử bị can chết (do bệnh AIDS) nên Tòa án đã áp dụng khoản 7 Điều 107 và Điều 180 BLTTHS ra Quyết định đình chỉ vụ án đối với Phạm Văn Cường là có căn cứ. Tuy nhiên, Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa ban hành "Quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án hình sự" là không đúng mẫu 4C ban hành kèm theo Nghị quyết số 04/2004/NQ-HĐTP ngày 05/11/2004 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC. Vụ Nguyễn Văn Đồng cùng đồng phạm – Đánh bạc, Quyết định đình chỉ vụ án của Tòa án huyện Tân Phú được ban hành sau khi có Quyết định đưa vụ án ra xét xử nên các “bị can” trong vụ án được gọi là các “bị cáo”, tuy nhiên trong Quyết định đình chỉ Tòa án lại dùng từ “bị can” là chưa chính xác. 3.3. Vi phạm về việc áp dụng căn cứ đình chỉ. Vụ Hoàng Thành Châu cùng đồng phạm – Đánh bạc do Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa đình chỉ miễn trách nhiệm hình sự là có căn cứ. Tuy nhiên, Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa căn cứ Công văn số 80/TANDTC-PC ngày 29/03/2016 của Tòa án nhân dân tối cao về hướng dẫn xử lý hành vi đánh bạc trái phép dưới 05 triệu đồng nhưng lại không nêu căn cứ đình chỉ Miễn TNHS đối với các bị cáo theo khoản 1 Điều 25 Bộ luật hình sự là thiếu sót. 3.4. Không thực hiện việc kiểm sát hồ sơ và Quyết định đình chỉ của Tòa án theo quy định. Một số Viện kiểm sát cấp huyện chưa thực hiện tốt công tác kiểm sát Quyết định đình chỉ của Cơ quan Toà án cùng cấp về thời hạn giao Quyết định đình chỉ, căn cứ đình chỉ và Điều luật áp dụng để thực hiện quyền kháng nghị hoặc kiến nghị được quy định tại khoản 3 Điều 182; Điều 232; khoản 1 Điều 239 BLTTHS; khoản 7, khoản 9 Điều 2; Điều 10, Điều 27, Điều 28 Quy chế thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử các vụ án hình sự ban hành kèm theo Quyết định số 960/QĐ-VKSTC ngày 17/09/2007 của Viện trưởng VKSND tối cao, cụ thể như: - Vụ Phạm Văn Cường – Mua bán trái phép chất ma túy do TAND TP Biên Hòa đình chỉ; - Vụ Nguyễn Văn Đồng cùng đồng phạm – Đánh bạc do TAND huyện Tân Phú đình chỉ, Kiểm sát viên đã không thực hiện việc kiểm sát quyết định đình chỉ để phát hiện các sai sót nêu trên để kịp thời yêu cầu Tòa án bổ sung khắc phục cụ thể: Quyết định rút quyết định truy tố của Viện kiểm sát không nêu đầy đủ tóm tắt nội dung Quyết định truy tố và căn cứ rút Quyết định truy tố (khoản 1 Điều 25 Bộ luật hình sự) theo quy định tại Điều 181 Bộ luật tố tụng hình sự nên trong Quyết định đình chỉ của Tòa án cũng không nêu phần căn cứ này. - Vụ Nguyễn Thanh Vương – Cố ý gây thương tích do TAND huyện Nhơn Trạch đình chỉ, đơn rút yêu cầu khởi tố của người bị hại không có xác nhận của chính quyền địa phương, không có lời khai của người bị hại để làm rõ lý do rút đơn, việc rút đơn có tự nguyện hay do bị người khác ép buộc, cưỡng bức. Ngoài ra có một số vụ án như: Vụ Vũ Thanh Liêm – Cố ý gây thương tích (TAND huyện Trảng Bom), Vụ Lê Hoàng – Cố ý gây thương tích, vụ Phan Thành Đạt – Cố ý gây thương tích (TAND huyện Tân Phú), Kiểm sát viên không thực hiện việc kiểm sát Quyết định đình chỉ của Tòa án theo quy định. III. NGUYÊN NHÂN VÀ BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC 1/ Nguyên nhân 1.1 Nguyên nhân chủ quan - Một số đơn vị VKS cấp huyện chưa làm tốt công tác phân loại, thụ lý, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố của Cơ quan điều tra cùng cấp; có nhiều trường hợp khởi tố vụ án, bị can nhưng chưa đánh giá chứng cứ thật khách quan, đầy đủ, toàn diện dẫn đến phải đình chỉ vì không phạm tội. - Kiểm sát viên khi được phân công Thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra vụ án thường chỉ quan tâm đến chứng cứ buộc tội; chỉ căn cứ vào lời khai nhận tội của bị can mà không xem xét, đánh giá các điểm còn mâu thuẫn giữa lời khai bị can và các tài liệu chứng cứ khác; chưa bám sát tiến độ điều tra để kịp thời đề ra yêu cầu điều tra để định hướng giải quyết vụ án cho phù hợp; chưa làm tốt nhiệm vụ gắn công tố với hoạt động điều tra; có vụ án do đánh giá không đúng bản chất của vụ việc, đánh giá không khách quan, toàn diện nên đã hình sự hóa các quan hệ dân sự, kinh doanh thương mại, hành chính dẫn đến phải đình chỉ vì không phạm tội. - Các vi phạm, tồn tại, thiếu sót về hình thức và nội dung quyết định đình chỉ của Cơ quan điều tra và Tòa án là trách nhiệm của Kiểm sát viên giải quyết vụ án do chưa thực hiện tốt công tác kiểm sát quyết định đình chỉ kịp thời phát hiện những vi phạm, sai sót để đầ xuất Lãnh đạo viện kiến nghị yêu cầu yêu cầu Cơ quan điều tra, Tòa án khắc phục. - Một số Kiểm sát viên còn thiếu trách nhiệm trong việc nghiên cứu, vận dụng các quy định của pháp luật, việc sử dụng mẫu quyết định tố tụng của ngành dẫn đến việc soạn thảo quyết định đình chỉ không đúng quy định, không thể hiện phần xử lý vật chứng vụ án, không đề xuất Lãnh đạo viện chuyển hồ sơ cho cơ quan có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong trường hợp bị can được đình chỉ có dấu hiệu vi phạm hành chính và còn thời hiệu để xử phạt hành chính, không làm hết trách nhiệm trong việc lấy lời khai người bị hại để xác định việc tự nguyện rút yêu cầu khởi tố đối với những vụ án, bị can được đình chỉ theo quy định tại Điều 105 khoản 2 Bộ luật TTHS... dẫn đến quyết định đình chỉ vụ án, quyết định đình chỉ vụ án đối với bị can do Viện kiểm sát ban hành còn sai sót về nội dung và hình thức, việc thu thập tài liệu để tham mưu lãnh đạo viện ban hành quyết định đình chỉ do người bị hại rút yêu cầu khởi không chặt chẽ. - Lãnh đạo một số đơn vị Viện kiểm sát cấp huyện chưa quan tâm đến việc kiểm tra về hình thức, nội dung quyết định đình chỉ do KSV soạn thảo trước khi ký ban hành nên không phát hiện những sai sót nêu trên. Không yêu cầu KSV phải có báo cáo đề xuất đường lối xử lý vụ án theo quy định của ngành để thể hiện trách nhiệm của KSV và Lãnh đạo viện; không kiểm tra thời hạn giải quyết vụ án của VKS theo quy định tại Điều 166 Bộ luật TTHS dẫn đến nhiều vụ án để kéo dài, đến khi ra quyết định đình chỉ đã vi phạm nghiêm trọng thời hạn tố tụng; chưa quan tâm đến việc chỉ đạo KSV kiểm sát quyết định đình chỉ của Cơ quan điều tra, Tòa án dẫn đến các cơ quan này đã ban hành nhiều quyết định đình chỉ sai về hình thức và nội dung nhưng VKS không phát hiện để kiến nghị khắc phục vi phạm. - Lãnh đạo một số Viện kiểm sát cấp huyện chưa chủ động thỉnh thị ý kiến chỉ đạo của Lãnh đạo Viện tỉnh đối với những vụ án phức tạp về chứng cứ trước khi phê chuẩn quyết định khởi tố bị can hoặc trước khi truy tố dẫn đến có nhiều vụ án phải đình chỉ vì không đủ chứng cứ xác định hành vi phạm tội của bị can. - Công tác phối hợp liên ngành trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm giữa các cơ quan tiến hành tố tụng cấp huyện trong một số trường hợp chưa thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ của mỗi ngành, có trường hợp còn đùn đẩy trách nhiệm giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát trong việc đình chỉ. + Nguyên nhân khách quan - Một số đơn vị do khối lượng công việc nhiều, biên chế còn thiếu nên chất lượng, hiệu quả công tác chuyên môn có mặt còn hạn chế, chưa sâu. - Tính chất thủ đoạn tội phạm ngày càng tinh vi, phức tạp; một số đối tượng lợi dụng vào quan hệ pháp luật dân sự, kinh doanh thương mại để thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản, dẫn đến việc nhận diện giữa tội phạm và các quan hệ tranh chấp khác gặp nhiều khó khăn. - Quy định của Bộ luật hình sự và Bộ luật tố tụng hình sự hiện hành có những vấn đề bất cập, lạc hậu so với yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm trong giai đoạn hiện nay dẫn đến việc nhận thức và áp dụng pháp luật chưa đồng bộ, chưa thống nhất. 2/ Biện pháp khắc phục Để làm tốt công tác Thực hành quyền công tố, kiểm sát án đình chỉ, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai đề nghị đồng chí Trưởng phòng nghiệp vụ 1, 2, 3 Viện kiểm sát nhân dân tỉnh và các đồng chí Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân các huyện, thị xã Long Khánh và thành phố Biên Hòa thực hiện một số nội dung sau: - Chủ động phối hợp với Cơ quan điều tra thực hiện tốt việc phân loại, thụ lý, giải quyết tố giác, tin báo tội phạm. Nâng cao trách nhiệm của KSV trong công tác khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi. Nâng cao trách nhiệm của KSV trong việc yêu cầu Cơ quan điều tra thu thập chứng cứ và phải đánh giá chứng cứ thật đầy đủ, khách quan, toàn diện; chứng cứ buộc tội và chứng cứ gỡ tội phải được cân nhắc, đánh giá thận trọng trước khi đề xuất Lãnh đạo Viện phê chuẩn quyết định tố tụng nhất là loại án Hiếp dâm, Hiếp dâm trẻ em, Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. - Lãnh đạo các phòng nghiệp vụ Viện tỉnh và Lãnh đạo VKS cấp huyện phải kiểm tra hồ sơ trước khi đề xuất phê chuẩn hoặc phê chuẩn các quyết định tố tụng. Nếu nhận định hồ sơ chưa thu thập đầy đủ chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội hoặc các tài liệu chứng cứ, lời khai còn mâu thuẫn chưa được làm rõ thì yêu cầu Cơ quan điều tra làm rõ. Nếu nhận định vụ việc không có dấu hiệu tội phạm thì kiên quyết không phê chuẩn và ra quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố vụ án, quyết định khởi tố bị can của Cơ quan điều tra để tránh làm oan sai hoặc bỏ lọt tội phạm. - Kiểm sát chặt chẽ việc ra Quyết định đình chỉ của Cơ quan điều tra và Tòa án cùng cấp đảm bảo có căn cứ, đúng pháp luật, tránh bỏ lọt tội phạm, tránh việc lạm dụng Điều 25 BLHS để ra Quyết định đình chỉ miễn TNHS không đúng quy định pháp luật. Giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát cần có sự trao đổi thống nhất trước khi Cơ quan điều tra ra quyết định đình chỉ điều tra. - Nâng cao chất lượng xây dựng hồ sơ kiểm sát án đình chỉ, trong đó Kiểm sát viên phải kiểm tra chặt chẽ lý do đình chỉ, căn cứ đình chỉ, điều luật áp dụng cũng như hình thức, nội dung và thẩm quyền ban hành Quyết định đình chỉ phải nêu đầy đủ, chính xác các căn cứ, nội dung, về các biện pháp ngăn chặn và biện pháp tư pháp của việc đình chỉ theo mẫu quy định đồng thời phải lập phiếu kiểm sát quyết định đình chỉ theo quy định. Hồ sơ kiểm sát phải được trích cứu, photo lưu trữ đầy đủ các tài liệu tố tụng, các tài liệu chứng cứ quan trọng, các biên bản họp (nếu có), các báo cáo đề xuất của Kiểm sát viên và ý kiến chỉ đạo của Lãnh đạo đơn vị. Hồ sơ chính và hồ sơ kiểm sát đều phải được sắp xếp, đánh số, đóng dấu bút lục, ghi chép danh mục tài liệu và đóng tập lưu trữ theo quy định. Lãnh đạo đơn vị phải kiểm tra hồ sơ và có ý kiến về hồ sơ trước khi ký quyết đình đình chỉ hoặc phiếu kiểm sát quyết định đình chỉ. - Đối với án do Viện kiểm sát đình chỉ, quyết định đình chỉ phải đảm bảo có căn cứ và phải nêu đầy đủ các nội dung theo mẫu số 100, 108 danh mục văn bản, quyết định trong công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra do Viện kiểm sát nhân dân tối cao ban hành. - Đối với các vụ án, bị can đình chỉ do người bị hại rút yêu cầu khởi tố theo quy định tại Điều 105 khoản 2 Bộ luật TTHS, nếu án trong giai đoạn điều tra thì Kiểm sát viên phải yêu cầu Điều tra viên lấy lời khai người bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của người bị hại về việc rút yêu cầu khởi tố là do tự nguyện hay do bị ép buộc, án trong giai đoạn truy tố thì Kiểm sát viên phải lấy lời khai, đơn rút yêu cầu khởi tố của người bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của người bị hại phải đảm bảo giá trị pháp lý. - Các trường hợp bị can, bị cáo sau khi ra Quyết định đình chỉ (nhất là các trường hợp đình chỉ miễn TNHS theo Điều 25 BLHS, đình chỉ do người bị hại rút yêu cầu khởi tố theo khoản 2 Điều 105 BLTTHS ...) nếu xác định hành vi của họ có dấu hiệu vi phạm hành chính và còn thời hiệu xử lý vi phạm hành chính thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án phải chuyển Quyết định đình chỉ kèm theo hồ sơ, tang vật, phương tiện của vụ việc vi phạm cùng văn bản đề nghị xử phạt vi phạm hành chính đến cơ quan có thẩm quyền để xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012. - Sau khi Viện kiểm sát ban hành quyết định đình chỉ hoặc sau khi thực hiện việc kiểm sát hồ sơ, quyết định đình chỉ của Cơ quan điều tra, Tòa án thì phải gửi ngay báo cáo bằng văn bản (kèm theo quyết định đình chỉ, bản kết luận điều tra, công văn trả hồ sơ, phiếu kiểm sát quyết định đình chỉ ) cùng hồ sơ án đình chỉ về Viện kiểm sát tỉnh Đồng Nai (qua Phòng 3) để kiểm tra, tổng hợp báo cáo Viện kiểm sát tối cao. - Định kỳ hàng tháng, các đơn vị phải có báo cáo tổng hợp số liệu và kết quả kiểm tra án đình chỉ của các cơ quan tiến hành tố tụng cùng cấp phát sinh trong tháng. Thời gian lấy số liệu được tính từ ngày 01 đến ngày cuối cùng của tháng kèm theo danh sách án đình chỉ của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án cùng cấp gửi về Viện kiểm sát tỉnh Đồng Nai (qua Phòng 3) trước ngày mùng 03 của tháng sau để Phòng 3 kịp thời tổng hợp báo cáo Lãnh đạo viện tỉnh và Viện kiểm sát nhân dân tối cao theo quy định. Trong nội dung báo cáo tháng cần báo cáo từng vụ án cụ thể và nêu đầy đủ các nội dung theo hướng dẫn số 05/HD-VKSTC-V1 ngày 19/01/2015 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao bao gồm: Tóm tắt nội dung vụ án; số, ngày tháng năm quyết định khởi tố vụ án, quyết định khởi tố bị can; căn cứ khởi tố; đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, của người phạm tội, nhân thân người phạm tội; số, ngày tháng năm quyết định đình chỉ vụ án, đình chỉ bị can; lý do đình chỉ; điều luật áp dụng; việc ban hành quyết định đình chỉ (về hình thức, thẩm quyền, lý do đình chỉ, điều luật áp dụng) là đúng hay sai; biện pháp khắc phục (nếu đình chỉ sai). Lưu ý : Tất cả các trường hợp đình chỉ phát sinh của tháng nào phải tổng hợp báo cáo số liệu của tháng đó, trường hợp trong tháng không có vụ án, bị can nào đình chỉ cũng phải có báo cáo và ghi rõ không có. Để nâng cao chất lượng công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát án đình chỉ của các Cơ quan tiến hành tố tụng, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai yêu cầu đồng chí Trưởng phòng 1, 2, 3 Viện tỉnh; đồng chí Viện trưởng VKSND các huyện, thị xã Long Khánh và thành phố Biên Hòa tổ chức họp rút kinh nghiệm chuyên đề này trong đơn vị. Đối với những đơn vị VKS cấp huyện có nhiều sai sót trong việc ban hành quyết định đình chỉ và thiếu sót trong công tác kiểm sát quyết định đình chỉ của Cơ quan điều tra, Tòa án cùng cấp dẫn đến không phát hiện những sai sót để kiến nghị yêu cầu khắc phục, Lãnh đạo viện phải nghiêm túc rút kinh nghiệm cho KSV để có biện pháp chấn chỉnh, kiên quyết không để xảy ra những thiếu sót tương tự trong thời gian tới. Lãnh đạo Phòng 3 –VKS tỉnh Đồng Nai.
Ý kiến bạn đọc