Bài học rút ra từ một vụ án dân sự: “ Tranh chấp QSD đất và tài sản trên đất”

Thứ sáu - 14/08/2015 03:38 4 0
Bài học rút ra từ một vụ án dân sự: “ Tranh chấp QSD đất và tài sản trên đất”

​ Thực hiện hướng dẫn số 1448/VKSTC-V5 ngày 10/5/2013 của VKSND Tối cao và kế hoạch công tác năm của VKSND huyện Trảng Bom về việc tổ chức phiên toà rút kinh nghiệm trong xét xử các vụ án dân sự nhằm nâng cao vai trò, trách nhiệm, kỹ năng nghiệp vụ bản lĩnh của đội ngũ kiểm sát viên. Vào lúc 14 giờ ngày 21/7/2015, VKSND huyện Trảng Bom đã phối hợp với Toà án nhân dân huyện Trảng Bom tổ chức phiên toà rút kinh nghiệm vụ án: “ Tranh chấp quyền sử dụng đất và tài sản trên đất” giữa: + Nguyên đơn: Ông Phạm Văn Hoằng, sinh năm: 1953 Trú tại: 67/4N, khu 2, ấp Thanh Hoá, xã Hố Nai 3, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai. + Bị đơn: Ông Lê Văn Thao, sinh năm: 1959 và bà Phan Thị Thắm, sinh năm: 1961. Trú tại: 67/4K, khu 2, ấp Thanh Hoá, xã Hố Nai 3, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai. Người có quyền và nghĩa vụ liên quan: + UBND huyện Trảng Bom- Địa chỉ: khu phố 3, Thị trấn Trảng Bom, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai. Người đại diện theo uỷ quyền ông Huỳnh Kim Tấn- Trưởng phòng Tài nguyên môi trường huyện Trảng Bom. + Anh Lê Trường Thọ, sinh năm: 1984, chị Lê Thị Thu Thảo, sinh năm: 1987 và anh Lê Đức Toàn, sinh năm: 1991- là con ông Thao bà Thắm- Cùng trú tại: 67/4K, khu 2, ấp Thanh Hoá, xã Hố Nai 3, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai. Anh Thọ, chị Thảo và anh Toàn uỷ quyền cho ông Thao. - Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Luật sư Sin Thoại Khánh- Văn phòng luật sư Sin Thoại Khánh – Đoàn luật sư Thành phố Hồ Chí Minh. Phiên toà có sự tham dự của lãnh đạo viện, kiểm sát viên, kiểm tra viên và chuyên viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom. Bản án dân sự sơ thẩm TAND huy ện Trảng Bom đã quyết định: Áp dụng các Điều: 255, 256- Bộ luật dân sự, các điều: 25, 131, 142, 202, 238, 243 và 245 Bộ luật tố tụng dân sự; Luật đất đai năm 1987; Điều 202 và Điều 203- Luật đất đai năm 2013, Pháp lệnh số 10/2009/UBTVQH12, ngày 27/02/2009 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về các loại án phí, lệ phí tòa án. Tuyên xử: 1. Không chấp nhận yêu cầu của ông Phạm Văn Hoằng đối với ông Lê Văn Thao và bà Phan Thị Thắm về tranh chấp quyền sử dụng diện tích đất 364m 2 là diện tích theo quyết định cấp đất số 357/QĐ-UBH, ngày 09/7/1992 nay là thửa số 288, tờ bản đồ số 49 xã Hố Nai 3 diện tích 368m 2 và căn nhà cấp 4 trên đất. 2. Không chấp nhận yêu cầu huỷ quyết định thu hồi đất số 349, ngày 30/6/1992, quyết định cấp đất số 357/QĐ-UBH, ngày 09/7/1992 và một phần quyết định cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng số AC 65194 cấp ngày 27/9/2005 đứng tên ông Lê Văn Thao và bà Phạm Thị Thắm. 3. Về án phí: Ông Phạm Văn Hoằng phải chịu 53.703.000 đồng ( năm mươi ba triệu bảy trăm lẻ ba ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về tranh chấp tài sản và 200.000 đồng ( hai trăm ngàn đồng) về yêu cầu huỷ quyết định. Được trừ vào số tiền 3.250.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 01196, ngày 24/7/2013 và 000776 ngày 10/4/2015 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Trảng Bom ông Hoằng còn phải nộp 50.653.000 đồng ( năm mươi triệu sáu trăm năm mươi ba ngàn đồng) án phí Ngoài ra bản án còn tuyên quyền kháng cáo của các đương sự. Sau khi nghiên cứu toàn bộ hồ sơ vụ án và bản án số 28/2015/DS-ST ngày 21/7/2015 của Toà án nhân dân huyện Trảng Bom, Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom nhận thấy Tòa án có những vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng, thu thập chứng cứ chưa đầy đủ, chứng cứ trong hồ sơ còn nhiều mâu thuẫn nhưng Toà án không điều tra làm rõ mà đã ra phán quyết làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và nghĩa vụ của các đương sự, cụ thể: Về thủ tục tố tụng: Về tư cách tố tụng của các đương sự : Tại phiên toà ông Hoằng thừa nhận quyền sử dụng diện tích đất đang tranh chấp là tài sản chung giữa ông và bà Phan Thị Nhi. Trong suốt quá trình giải quyết vụ án bà Nhi có duy nhất 01 bản tự khai thể hiện bà là: “Người có quyền và nghĩa vụ liên quan trong vụ án: “ Tranh chấp hợp đồng cho vay tài sản” giữa nguyên đơn Phạm Văn Hoằng và bị đơn là Nguyễn Văn Đam” . Vì vậy Toà án không đưa bà Nhi vào tham gia tố tụng là thiếu tư cách đương sự, vi phạm khoản 4 điều 56 Bộ luật tố tụng dân sự. Về quan hệ pháp luật : Ông Phạm Văn Hoằng khởi kiện yêu cầu ông Lê Văn Thao và bà Phan Thị Thắm phải trả lại cho ông diện tích 364m 2 thửa 288, tờ bản đồ số 49, xã Hố Nai 3, huyện Trảng Bom và căn nhà cấp 4 trên đất. Đồng thời yêu cầu Toà án huỷ quyết định thu hồi đất số 349 ngày 30/6/1992, quyết định cấp đất số 357/QĐ-UBH ngày 09/7/1992 và một phần quyết định cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông Thao bà Thắm. Tuy nhiên Toà án chỉ xác định quan hệ pháp luật trong vụ án là: “ Tranh chấp quyền sử dụng đất và tài sản trên đất” mà không xác định quan hệ pháp luật là “ yêu cầu huỷ quyết định cá biệt” là chưa đầy đủ. Chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ làm căn cứ để giải quyết vụ án còn rất nhiều mâu thuẫn, cụ thể: Theo biên bản hoà giải ngày 11/6/2014 tại Ủy ban nhân dân xã Hố Nai 3: Tổ tư vấn giải quyết tranh chấp xác minh trên hồ sơ xác định: Diện tích đất đang tranh chấp nằm ngoài khuôn viên trường công nhân Cơ giới 3. Trong quyết định thu hồi đất ngày 30/6/1992 của UBND huyện Thống Nhất thể hiện: Diện tích đất bị thu hồi nằm trong khuôn viên của trường công nhân Cơ giới 3. Mặt khác trong quyết định thu hồi đất thể hiện: “ Số diện tích trên giao cho UBND xã Hố Nai 3 quản lý và đề nghị huyện cấp đất thổ cư cho những đối tượng chưa có nhà ở”. Tuy nhiên tại quyết định cấp đất của UBND huyện Thống Nhất cho ông Lê Văn Thao thì lại xét tờ trình của trường công nhân Cơ giới 3. Tại báo cáo nội dung kết quả xác minh đơn ngày 22/7/2012 của ông Phạm Văn Hoằng, Ủy ban nhân dân xã Hố Nai 3 đã kết luận: “ Phần diện tích đất 364m 2 thuộc thửa đất số 5 ( thửa 288 diện tích 368m 2 ) theo quyết định thu hồi nói là nằm trong khuôn viên của trường công nhân Cơ giới 3 là không khớp với thực tế vì thửa đất đó nằm ngoài khuôn viên của trường ( đất xã cấp cho ông Đản năm 1984)”. Cũng tại báo cáo của Uỷ ban nhân dân xã Hố Nai 3 thể hiện: “ Ngày 08/7/1992 UBND huyện Thống Nhất quyết định cấp cho ông Lê văn Thao thửa đất đã thu hồi của ông Kỉnh diện tích 364m 2 . Lúc đầu trường làm nhà cho ông Kỉnh diện tích 07mx chiều sâu hết đất khoảng 244m 2 trong quyết định thu hồi chênh lệch 120m 2 ” và tại sao có sự chênh lệch này cũng chưa được làm rõ. Hơn nữa Toà án còn căn cứ vào lời khai của ông Trần Văn Kỉnh làm căn cứ để khẳng định diện tích đất và căn nhà trên là của trường Cơ giới 3 cho giáo viên ở. Sau khi ông được bố trí chỗ ở khác ông đã giao lại nhà và nhà trường đã giao căn nhà trên cho ông Thao, bà Thắm ở từ năm 1992. Tuy nhiên tại biên bản hoà giải ngày 16/12/2009 có thể hiện lời khai ông Kỉnh: “Ông Kỉnh có công nhận rằng miếng đất này do ông Hoằng mua lại của ông Nguyễn Văn Đản năm 1991, nhưng không hiểu vì sao mà UBND huyện lại thu hồi đất này cấp cho vợ chồng ông bà Thao” . Như vậy lời khai của ông Kỉnh không thống nhất, còn mâu thuẫn nhưng Toà án dùng làm căn cứ để giải quyết vụ án là chưa chính xác. Giấy tay sang nhượng của ông Hoằng cho ông Phan Văn Chu được Uỷ ban nhân dân xã Hố Nai 3 xác nhận ngày 13/10/1997 ông Hoằng xác định lô đất ông sang nhượng cho ông Chu phía tây giáp ông Lê Văn Thao. Toà án xác định giấy sang nhượng này làm căn cứ chứng minh từ khi nhận chuyển nhượng và đến năm 1997 ông Hoằng vẫn khẳng định nhà và đất là của ông Thao bà Thắm là không có cơ sở. Vì giấy sang nhượng này lại mâu thuẫn với lời khai của ông Chu, lời khai của ông Hoằng và mâu thuẫn với chính lời khai của bà Thắm. Cụ thể tại phiên toà cũng như tại biên bản làm việc với ông Chu, ông Hoằng, ông Chu, ông Hoằng đều thừa nhận: Phía tây của thửa đất ông Chu nhận chuyển nhượng còn 3,8 mét nữa mới đến diện tích đất ông Thao bà Thắm đang ở. Tại biên bản hoà giải ngày 16/12/2009 bà Thắm thừa nhận: Về phần 03 m anh chị Hoằng đã cho tôi nhưng trên thực tế tôi đã trả tiền cho anh chị Hoằng nếu bây giờ anh chị Hoằng đòi tiền thì tôi trả thêm tiền, đòi lại 03 m đất tôi trả lại đất. Như vậy phía tây của phần diện tích đất ông Chu đã nhận chuyển nhượng của ông Hoằng không thể có việc phía tây giáp đất ông Thao bà Thắm được. Giấy sang nhượng này là thật hay có sự giả mạo cũng chưa được Toà án điều tra làm rõ. Như vậy diện tích đất đang tranh chấp nằm ngoài khuôn viên trường Cơ giới 3 hay nằm trong khuôn viên trường Cơ giới 3. Diện tích đất này có đúng là xã đã cấp cho ông Đản vào năm 1984 hay không. Diện tích đất này sau khi UBND huyện thu hồi đã giao cho UBND xã Hố Nai 3 quản lý nhưng tại sao khi cấp đất cho ông Thao, bà Thắm lại xét tờ trình của trường công nhân Cơ giới 3. Tại sao có sự chênh lệch 120m 2 theo như báo cáo của Uỷ ban nhân dân xã Hố Nai 3 cũng chưa được điều tra làm rõ. Về án phí : Toà án yêu cầu ông Hoằng phải chịu 200.000 đồng án phí về yêu cầu huỷ quyết định cấp đất và quyết định thu hồi đất là vi phạm điều 6 Thông tư liên tịch số 01/2014/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06 tháng 01 năm 2014 quy định: “Đương sự không phải nộp tạm ứng án phí và không phải chịu án phí đối với yêu cầu huỷ quyết định cá biệt rõ ràng trái pháp luật”. Từ những vi phạm nêu trên, ngày 4/8/2015 VKSND huyện Trảng Bom đã ban hành quyết định kháng nghị toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm số 28/2015/DS-ST ngày 21/7/2015 của Toà án nhân dân huyện Trảng Bom theo thủ tục phúc thẩm theo hướng hủy toàn bộ bản án sơ thẩm số 28/2015/DS-ST ngày 21/7/2015 của Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom để giải quyết lại vụ án theo thủ tục chung. Những bài học rút ra từ vụ án: Trước khi tham gia phiên toà kiểm sát viên cần nghiên cứu hồ sơ hết sức kỹ lưỡng từ thủ tục nhận đơn khởi kiện, thời hiệu khởi kiện, quan hệ pháp luật, tư cách đương sự, thủ tục thu thập chứng cứ vv... Hoạt động này có ý nghĩa quan trọng để kiểm sát viên nắm rõ toàn bộ hồ sơ vụ án, quyết định hiệu quả của KSV khi tham gia phiên toà. Tại phiên Toà KSV phải vận dụng các kỹ năng như: lắng nghe, quan sát, đặt câu hỏi, xử lý tình huống phát sinh tình huống tại tại phiên toà. Kiểm sát chặt chẽ lại toàn bộ thủ tục tố tụng vụ án cũng như nội dung vụ án. Trên đây là những bài học kinh nghiệm tôi rút ra từ một vụ án dân sự mà tôi tham dự rút kinh nghiệm theo kế hoạch công tác năm của VKSND huyện Trảng Bom. Xin chia sẻ cùng các đồng nghiệp ./. Trìu A Sám-VKSND huyện Trảng Bom.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

199/BC-VKS

Báo cáo công khai số liệu và thuyết minh tình hình thực hiện dự toán ngân sách nhà nước 6 tháng năm 2026 của VP VKSND thành phố Đồng Nai

Thời gian đăng: 09/07/2026

lượt xem: 13 | lượt tải:6

198/BC-VKS

Báo cáo công khai số liệu và thuyết minh tình hình thực hiện dự toán ngân sách nhà nước 6 tháng năm 2026 của VKSND thành phố Đồng Nai

Thời gian đăng: 10/07/2026

lượt xem: 9 | lượt tải:9

11/QĐ-VKS

QĐ về việc giao dự toán ngân sách nhă nước năm 2026

Thời gian đăng: 15/07/2026

lượt xem: 2 | lượt tải:1

144/2017/TT-BTC

Công khai tình hình xử lý tài sản công tại cơ quan, tổ chức, đơn vị năm 2026

Thời gian đăng: 07/07/2026

lượt xem: 10 | lượt tải:6

22/2026/HĐ.DVĐGT

Thông báo kết quả đấu giá tài sản

Thời gian đăng: 07/07/2026

lượt xem: 4 | lượt tải:2
lgo vkstoi cao
banner kiemsat2vks1
tvpl
công khai tài chính
bvpl
TB Trụ sở
Nghị quyết 205
Công khai tài chính
Chithi06
Thống kê truy cập
  • Đang truy cập17
  • Hôm nay713
  • Tháng hiện tại23,304
  • Tổng lượt truy cập19,956,696
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây