Những vướng mắc, bất cập khi áp dụng một số quy định trong Bộ luật hình sự.

Thứ ba - 18/06/2013 04:04 8 0
Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (TNHS) là những tình tiết thể hiện tính nhân đạo của pháp luật Xã hội chủ nghĩa đối với những người phạm tội. Việc xem xét áp dụng dựa trên các yếu tố khách quan, chủ quan hoặc các đặc điểm nhân thân người phạm tội vào từng điều kiện hoàn cảnh cụ thể xảy ra

​ Tất cả các tình tiết này đều thuộc về các căn cứ để quyết định giảm nhẹ TNHS cho người phạm tội. Bộ luật hình sự (BLHS) quy định các tình tiết này tại Điều 46 để cho các Cơ quan tiến hành tố tụng xem xét, cân nhắc mức độ, điều kiện mà người phạm tội được hưởng, tránh sự tùy tiện khi vận dụng các tình tiết giảm nhẹ TNHS vào việc xét xử. Vận dụng không đúng đắn các tình tiết giảm nhẹ sẽ dẫn đến hậu quả là xử phạt bị cáo quá nhẹ không tương xứng với hành vi phạm tội cũng như nhân thân người phạm tội. Thực tiễn xét xử cho thấy giữa Tòa án và Viện kiểm sát có lúc, có nơi vận dụng chưa thống nhất một số tình tiết giảm nhẹ TNHS quy định tại khoản 1 điều 46 BLHS, cụ thể: * Về tình tiết “người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả” điểm b khoản 1 điều 46 BLHS . Về vấn đề này theo nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTP ngày 12/5/2006 của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao thì chỉ áp dụng điểm b, khoản 1 điều 46 BLHS khi người phạm tội tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả còn trường hợp gia đình bị cáo sửa chữa, bồi thường thiệt hại thay bị cáo thì áp dụng khoản 2 điều 46 BLHS. Thực tế việc gia đình bị cáo sửa chữa, bồi thường thiệt hại thay cho bị cáo có nơi áp dụng điểm b khoản 1 điều 46, có nơi áp dụng khoản 2 điều 46 BLHS. Thực tiễn xét xử cho thấy, tại phiên tòa bị cáo khai đã tác động gia đình bồi thường, khắc phục hậu quả nhưng trong hồ sơ không có tài liệu gì thể hiện, Hội đồng xét xử vẫn áp dụng tình tiết giảm nhẹ trên cho bị cáo. Có quan điểm cho rằng việc bị cáo hoặc gia đình bị cáo tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại cần được khuyến khích để khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội gây ra do đó bất luận bị cáo hay người nhà bị cáo nếu tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra đều được áp dụng tiết giảm nhẹ tại điểm b khoản 1 điều 46 BLHS. * Về tình tiết “phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 46 BLHS . Hiện nay chưa có văn bản hướng dẫn nào của cơ quan có thẩm quyền để xác định: thiệt hại như thế nào được coi là không lớn, nếu thiệt hại về sức khỏe thì bao nhiêu phần trăm được coi là không lớn? hoặc nếu thiệt hại về tài sản thì quy thành tiền số lượng cụ thể bao nhiêu được coi là thiệt hại không lớn?... mà tùy thuộc vào sự xem xét đánh giá của HĐXX, tùy thuộc từng tội cụ thể. Điểm g khoản 1 Điều 46 BLHS quy định tình tiết giảm nhẹ TNHS là: phạm tội nhưng chưa gây thiệt hoặc gây thiệt hại không lớn. Đây là những trường hợp người phạm tội đã thực hiện tội phạm nhưng chưa gây ra hậu quả tác hại cho xã hội hoặc tuy hậu quả tác hại đã xảy ra nhưng không lớn vì được hạn chế do những nguyên nhân có thể xuất phát từ trong hoặc ngoài ý muốn của người phạm tội. Mức độ giảm nhẹ TNHS đối với người phạm tội tùy thuộc vào tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà họ thực hiện.Tuy nhiên, có quan điểm cho rằng tình tiết “phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn” chỉ xảy ra do nguyên nhân khách quan ngoài ý muốn của người phạm tội. Đồng thời, nếu “người bị xử phạt theo Điều 133 BLHS về tội “Cướp tài sản” không được áp dụng tình tiết giảm nhẹ này bởi vì ngoài thiệt hại về vật chất còn có thiệt hại về mặt tinh thần của nạn nhân nhưng không chứng minh được. Theo ý kiến của Vụ 3, VKS tối cao tại công văn số 994 ngày 09/4/2012, thì: Khái niệm “chưa gây thiệt hại” và “gây thiệt hại không lớn” đều nằm ngoài ý thức chủ quan của người phạm tội “chưa gây thiệt hại” là trường hợp hậu quả vật chất do hành vi phạm tội chưa xảy ra trên thực tế như trộm cắp chưa lấy được tài sản, chưa dịch chuyển tài sản ra khỏi nơi quản lý của chủ tài sản . Nếu đã dịch chuyển tài sản ra khỏi nơi quản lý của chủ tài sản mà bị quần chúng phát hiện, đuổi theo và bị bắt quả tang hay được cơ quan điều tra thu hồi trong quá trình điều tra thì không thuộc trường hợp “chưa gây thiệt hại ” Thực tiễn xét xử cho thấy, Hội đồng xét xử đều áp dụng tình tiết này trong trường hợp tài sản đã được thu hồi trả lại cho chủ tài sản mà không phụ thuộc vào mặt chủ quan hay khách quan của người phạm tội và tài sản đã bị dịch chuyển hay chưa. * Về tình tiết “phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” điểm h khoản 1 điều 46 BLHS. Thực tiễn có nơi căn cứ vào quy định phân loại tội phạm tại điều 8 BLHS, quy định tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại không lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến 3 năm tù. Do đó, chỉ những trường hợp phạm tội mà mức cao nhất của khung hình phạt áp dụng đến 3 năm tù và lần đầu phạm tội mới được áp dụng tình tiết giảm nhẹ “phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng”. Có quan điểm cho rằng: hai khái niệm “trường hợp ít nghiêm trọng” và “tội phạm ít nghiêm trọng” là hai khái niệm khác nhau, khái niệm “trường hợp ít nghiêm trọng” rộng hơn bao hàm cả “tội phạm ít nghiêm trọng” do đó phải vận dụng tình tiết giảm nhẹ trên trong “trường hợp ít nghiêm trọng” và các trường hợp khác tùy tính chất hậu quả của hành vi do người phạm tội gây ra. Như vậy việc áp dụng tình tiết giảm nhẹ này sẽ rộng hơn và thuận lợi khi phân loại, đánh giá vị trí, vai trò của từng bị cáo trong vụ án có đồng phạm. Thực tiễn hiện nay chỉ áp dụng tình tiết này đối với “tội phạm ít nghiêm trọng” là chưa phù hợp, có thể gây bất lợi cho bị cáo. * Về vấn đề xử lý đối với trường hợp có đồng phạm và áp dụng điều 47 BLHS. Đối với trường hợp có đồng phạm Điều 53 BLHS quy định: “Khi quyết định hình phạt đối với những người đồng phạm, Tòa án phải xét đến tính chất của đồng phạm, tính chất và mức độ tham gia phạm tội của từng người đồng phạm. Các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng hoặc loại trừ trách nhiệm hình sự thuộc người đồng phạm nào, thì chỉ áp dụng đối với người đó”. Tuy nhiên, khi xử lý những vụ án đồng phạm; tính chất, mức độ tham gia đồng phạm của từng người là rất khác nhau và có sự cách biệt lớn nhưng do có đồng phạm nên những người tham gia đều bị xử lý trong cùng khung hình phạt. Trong khi đó Điều 47 BLHS quy định chỉ khi có ít nhất 2 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 46 BLHS, Tòa án mới có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà điều luật đã quy định. Do đó, trên thực tế trong các vụ án có nhiều đồng phạm khác, người tham gia với vai trò thứ yếu cũng phải chịu mức hình phạt trong khung cùng với người cầm đầu, chủ mưu do không có hoặc chỉ có 1 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 46 BLHS, không đủ điều kiện để vận dụng điều 47 BLHS. Ngược lại, có trường hợp trong vụ án có đồng phạm khi xử lý mặc dù bị cáo chỉ có 1 tình tiết giảm nhẹ ở Điều 46 BLHS nhưng Tòa án vẫn áp dụng Điều 47 BLHS xử phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà điều luật quy định. Về nguyên tắc điều này là vi phạm Điều 47 BLHS nhưng xét về tính hợp lý giữa các đồng phạm tham gia thì việc xử lý với mức án đã áp dụng như vậy trong một số trường hợp là phù hợp. Do đó, việc quy định tại Điều 47 BLHS như hiện nay có phần chưa phù hợp với thực tiễn xét xử. Như vậy, việc vận dụng những tình tiết giảm nhẹ nêu trên có lúc, có nơi chưa thống nhất do có sự nhận thức khác nhau. Đối với các tình tiết quy định tại các điểm b, g khoản 1 điều 46 BLHS nêu trên, ngày 09/4/2012 Vụ 3 - Viện kiểm sát tối cao đã có công văn số 994/VKSTC-V3 hướng dẫn VKS địa phương áp dụng. Tuy nhiên, đây chỉ là hướng dẫn trong nội bộ ngành chưa có Thông tư liên tịch giữa liên ngành Trung ương để hướng dẫn áp dụng thống nhất cho phù hợp với thực tế truy tố, xét xử hiện nay. Qua thực tiễn xét xử các vụ án hình sự, bản thân tôi còn thấy những khó khăn vướng mắc trong quá trình áp dụng pháp luật xin trao đổi cùng đồng nghiệp./. Phạm Văn Chìu – KSV VKS huyện Trảng Bom

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

09a-CK/TSC

Công khai tình hình đầu tư xây dựng, mua sắm, giao, thuê tài sản công năm 2025

lượt xem: 11 | lượt tải:6

127/QĐ-VKS

QĐ về việc công bố, công khai số liệu giao dự toán ngân sách nhà nước năm 2026 của VKSND thành phố Đồng Nai

lượt xem: 12 | lượt tải:6

128/QĐ-VKS

QĐ về việc công bố công khai số liệu giao dự toán ngân sách nhà nước năm 2026 của Văn phòng VKSND thành phố Đồng Nai

lượt xem: 11 | lượt tải:6

198/BC-VKS

Báo cáo công khai số liệu và thuyết minh tình hình thực hiện dự toán ngân sách nhà nước 6 tháng năm 2026 của VKSND thành phố Đồng Nai

lượt xem: 13 | lượt tải:10

199/BC-VKS

Báo cáo công khai số liệu và thuyết minh tình hình thực hiện dự toán ngân sách nhà nước 6 tháng năm 2026 của VP VKSND thành phố Đồng Nai

lượt xem: 17 | lượt tải:7
lgo vkstoi cao
banner kiemsat2vks1
tvpl
công khai tài chính
bvpl
TB Trụ sở
Nghị quyết 205
Công khai tài chính
Chithi06
Thống kê truy cập
  • Đang truy cập14
  • Hôm nay753
  • Tháng hiện tại33,928
  • Tổng lượt truy cập19,967,320
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây