Trang chủ : Nội dung tin Home
Tìm kiếm
 

 Góp ý

 

Mọi thông tin góp ý xin vui lòng liên hệ qua email:
Thanhnguyen99ct2@gmail.com

 

 Tin tức ngành

 
Phòng 9 - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai thực hiện phiên tòa dân sự phúc thẩm rút kinh nghiệm bằng hình thức trực tuyến Cập nhật: 30-07-2020 11:10
Căn cứ Chỉ thị số 01/CT-VKSTC ngày 17/12/2019 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao về công tác của ngành Kiểm sát trong năm 2020; Hướng dẫn số 02 /HD-VKSTC ngày 02/01/2020 của Vụ 9- Viện kiểm sát nhân dân tối cao; Kế hoạch số 29 /KH-VKS ngày 08/01/2020 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai; Kế hoạch số 49/KH-VKS ngày 04/01/2020 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai về việc “Tổ chức phiên tòa dân sự rút kinh nghiệm năm 2020”. Vừa qua, Phòng 9 – Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai phối hợp với Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai tổ chức phiên tòa rút kinh nghiệm do Kiểm sát viên trung cấp Lê Hồng Thư thực hiện kiểm sát hoạt động tư pháp đối với vụ án dân sự sơ thẩm: “Tranh chấp quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở” giữa nguyên đơn cụ Vũ Thị M và cụ Nguyễn Đức A với bị đơn bà Phạm Thị N.

Tóm tắt nội dung vụ án:

Nguyên đơn khởi kiện tranh chấp nhà đất 17m2, theo kết quả đo vẽ thực tế có diện tích 16,5m2 (trong đó diện tích nằm trên mương nước là 2,8m2 ; diện tích còn lại là 13,7m2 ). Nguồn gốc đất các bên đương sự khai thống nhất là của vợ chồng cụ A, cụ M tạo dựng trước năm 1981. Vào ngày 27/10/1981 cụ A và cụ T ký kết “Giấy cho nhà” với nội dung “Tôi tên Nguyễn Đức A bằng lòng cho ông Phạm Viết T một cái chuồng heo nho nhỏ vì ông cụ chỉ có 2 cha con, không có nhà ở. Vậy tôi cho ông T để ở. Nếu sau này có sự gì ngăn trở, tôi sẽ chịu trách nhiệm. Trang sau có dòng chữ xác nhận của ông Phạm Quang Tâm - Tổ trưởng Tổ 1 là: đương sự thường trú tại tổ 1, có 1 cái chuồng heo theo nguyên đơn, kính chuyển cấp trên” (tài liệu đã được cơ quan có thẩm quyền xác nhận đúng với bản gốc). Lưu ý là giấy cho nhà không thể hiện diện tích nhà đất là bao nhiêu. Do ông Tâm đã chết nên không thể lấy lời khai. Đối với giấy cho nhà này, cụ M không ký tên, còn cụ A lúc đầu không thừa nhận chữ ký của mình mà cho rằng cho cụ T và con gái là bà N ở nhờ nhà đất, khi cho ở nhờ không lập văn bản, chỉ thỏa thuận miệng là sau khi cả hai cha con cụ T qua đời thì hai cụ nhận lại nhà; nhưng lời khai sau đó cụ A cho rằng cụ ký tên không phải để cho nhà đất mà ký để giúp cha con cụ T đi đăng ký thường trú. Còn bà N khai rằng không phải ở nhờ mà mua nhà đất của cụ A với giá 2 chỉ vàng, đã trả đủ vàng nhưng không lập biên nhận, sở dĩ không ghi giấy mua bán mà ghi giấy cho nhà vì thời điểm này nhà nước cấm mua bán nhà đất. Cha con cụ T đã ở trong căn nhà này từ năm 1981. Năm 1998, UBND phường Tam Hòa có thông báo đăng ký kê khai nên cả 2 cụ A và cụ T đều kê khai xin cấp giấy chứng nhận đối với diện tích đất trên. Bản gốc giấy cho nhà nêu trên cụ T đã nộp và hiện đang được lưu trong hồ sơ kê khai tại VPĐKĐĐ chi nhánh Biên Hòa. Mặc dù cả 2 cụ kê khai nhưng chỉ cụ T được UBND phường Tam Hòa xét duyệt và được UBND TP Biên Hòa cấp giấy chứng nhận vào ngày 30/11/2010 với diện tích 13,7m2 (nhưng giấy chứng nhận chưa phát hành vì có tranh chấp). Còn cụ A không được UBND phường Tam Hòa xét duyệt với lý do có đơn khiếu nại của cụ A và cụ T vào ngày 07/12/1998.Ngày 16/12/1999, cụ T qua đời, bà N tiếp tục ở trong căn nhà trên. Ngày 19/02/2009, 4 người thừa kế theo pháp luật của cụ  T gồm có Phạm Thị N, Phạm Thị H, Vũ Thị N, Phạm Hoàng L lập “Văn bản thỏa thuận phân chia tài sản” đồng ý giao bà H toàn quyền định đoạt di sản thừa kế là nhà và đất nêu trên, có chứng thực của UBND phường Tam Hòa. Sau đó bà H dự định đập căn nhà để xây mới thì phát sinh tranh chấp với cụ A. Năm 2010, cụ A và cụ M nộp đơn khởi kiện ra Tòa đòi bà N trả nhà đất cho ở nhờ có diện tích 17m2;  trước đó UBND phường Tam Hòa đã hòa giải không thành.

Tại phiên tòa sơ thẩm, Kiểm sát viên tham dự phiên tòa tham gia đặt câu hỏi làm rõ các tình tiết nội dung tranh chấp và đề nghị HĐXX chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc đòi lại nhà đất. Giao căn nhà cùng diện tích đất 13,7m2 thuộc thửa đất số 235, tờ bản đồ số 13, tại địa chỉ 27/5B, khu phố 2, phường Tam Hòa, thành phố Biên Hòa cho hàng thừa kế thứ nhất của cụ T sử dụng, sở hữu. Buộc hàng thừa kế thứ nhất của cụ T thanh toán ½ gía trị nhà đất cho cụ M (do vô hiệu ½) theo chứng thư thẩm định giá ngày 14/4/2017 là 91.444.000đ.

Sau khi kết thúc phiên tòa, đơn vị đã tiến hành họp rút kinh nghiệm theo đúng Hướng dẫn số 32/HD-VKSTC ngày 30/11/2018 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao; Tập thể Lãnh đạo, Kiểm sát viên, công chức của đơn vị đã đưa ra thống nhất đánh giá cao kỹ năng của Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm như xét hỏi, xử lý các tình huống mới phát sinh, tranh luận, đối đáp và phát biểu quan điểm giải quyết vụ án đúng pháp luật được Hội đồng xét xử thống nhất quan điểm, chấp nhận đề nghị của VKS.

Qua phiên tòa rút kinh nghiệm, đội ngũ Kiểm sát viên, đội ngũ chuyên viên Phòng 9- Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai đều tích lũy được kiến thức, rút ra được kinh nghiệm cho bản thân trong quá trình nghiên cứu, giải quyết vụ án. Thấy được vai trò, trách nhiệm của Kiểm sát viên tại các phiên tòa để từ đó có ý thức hoàn thiện bản thân, chủ động học hỏi, rèn luyện để nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ năng nghiệp vụ bằng việc tích cực tham gia các phiên tòa rút kinh nghiệm cũng như các chương trình đào tạo khác của cơ quan./.

 

                                   Nguyễn Thị Bích Ngọc - Phòng 9
Các tin đã đăng ngày
Select a date from the calendar.
 
 

 Video

 
Thư viện video
 

 Thư viện ảnh

 
ĐĂNG NHẬP