Trang chủ : Nội dung tin Home
Tìm kiếm
 

 Góp ý

 

Mọi thông tin góp ý xin vui lòng liên hệ qua email:
Thanhnguyen99ct2@gmail.com

 

 Tin tức ngành

 
Khái quát về Viện kiểm sát nhân dân qua 60 năm hình thành và phát triển (26/07/1960 – 26/07/2020) Cập nhật: 21-07-2020 09:36
Ngày 15 tháng 7 năm 1960, tại kỳ họp thứ nhất, Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (khoá II) đã thông qua Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân gồm 6 chương, 25 điều, quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy của Viện kiểm sát nhân dân. Và tại kỳ họp này,

​          Đồng chí Hoàng Quốc Việt được Quốc hội bầu giữ chức vụ Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Tối cao. Luật này đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Lệnh công bố số 20-LCT ngày 26/7/1960. Đây là đạo luật quan trọng, đánh dấu sự ra đời của Viện kiểm sát nhân dân trong bộ máy nhà nước ta. Có thể nói, việc xác định vị trí, chức năng, nhiệm vụ, tổ chức, bộ máy và nguyên tắc tổ chức theo hệ thống dọc của Viện kiểm sát nhân dân là một bước tiến mới bảo đảm cho việc thực hiện pháp chế thống nhất trong lịch sử nước ta. 

P10 21.07.2020.gif
Đồng chí Hoàng Quốc Việt –Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân đầu tiên của Ngành kiểm sát nhân dân

​       Tại Hội nghị kiểm điểm công tác 6 tháng đầu năm và học tập Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1960 của ngành Kiểm sát nhân dân diễn ra vào ngày 02/8/1960, đồng chí Trường Chinh, Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã nhấn mạnh đến sự cần thiết và trách nhiệm to lớn của Viện kiểm sát nhân dân: “Việc thành lập Viện kiểm sát nhân dân chính là để đảm bảo nhiệm vụ chuyên chính dân chủ nhân dân, thực hiện dân chủ rộng rãi và phát triển nền dân chủ ấy... Việc thành lập Viện kiểm sát nhân dân có mục đích bảo đảm pháp chế dân chủ nhân dân được tôn trọng, luật pháp được tôn trọng, quyền lợi chính đáng của nhân dân được tôn trọng. Kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các cơ quan nhà nước, nhân viên cơ quan nhà nước và mọi người công dân là rất quan trọng. Làm việc này so với công tố trước kia thì nhiệm vụ đã mở rộng, quyền hạn lớn lên... Kiểm sát là làm thế nào bảo đảm trấn áp phản cách mạng, không để chúng lọt lưới hoành hành, bảo đảm giữ gìn trật an ninh, tài sản và quyền lợi chính đáng của nhân dân”.

Thực hiện các quy định của Hiến pháp năm 1959 và Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1960, tại phiên họp từ ngày 24 đến ngày 29/4/1961, Ban Thường trực Quân ủy Trung ương đã ra quyết nghị tổ chức Viện kiểm sát quân sự trong Quân đội. Thi hành quyết nghị trên của Ban Thường trực Quân ủy Trung ương, ngày 12/5/1961, Tổng cục Chính trị Bộ Quốc phòng đã ra Thông tri số 06/TT-H hướng dẫn tổ chức các Viện kiểm sát quân sự. Ngày 12/5/1961 chính thức trở thành ngày thành lập ngành Kiểm sát quân sự.

Viện kiểm sát quân sự thuộc hệ thống Viện kiểm sát nhân dân, đặt trong Quân đội dưới sự chỉ đạo tập trung thống nhất của Đảng uỷ Quân sự Trung ương và Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, sự chỉ đạo về mặt nghiệp vụ của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

Từ khi hình thành, Viện kiểm sát nhân dân tổ chức hoạt động theo Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1960 và Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân các năm 1981, 1992, 2002 và hiện nay là Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014.

 Theo từng thời kỳ, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân đã có sự điều chỉnh đáng kể chức năng của Viện kiểm sát. Đặc biệt luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002. Kể từ đây, Viện kiểm sát không thực hiện công tác kiểm sát chung để tập trung làm tốt chức năng công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp. Lần đầu tiên, Luật đã phân định rõ phạm vi, nội dung của chức năng thực hành quyền công tố và chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp (các Điều 13, 14, 17 và 18). Có thể nói, đây là bước thay đổi lớn nhất về chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát kể từ ngày thành lập Viện kiểm sát nhân dân. Căn cứ quy định của Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002, Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã thu gọn đầu mối Cơ quan điều tra ở Viện kiểm sát nhân dân các tỉnh, thành phố; chỉ còn lại Cục Điều tra ở Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

Sau khi Quốc hội khóa XIII thông qua Hiến pháp năm 2013, Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã trình Quốc hội thông qua Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân sửa đổi, bổ sung (Luật 63/2014/QH13 ngày 24/11/2014).  Về cơ bản Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 tiếp tục kế thừa những quy định còn phù hợp của Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002, song có những điểm mới cơ bản như:

Thứ nhất, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 quy định rõ phạm vi, nội dung, mục đích của từng chức năng thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp. Về chức năng thực hành quyền công tố, đã quy định cụ thể: Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố ngay từ khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự. Về chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp: Luật năm 2014 đã quy định chặt chẽ hoạt động kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố; kiểm sát trong giai đoạn truy tố; kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp và kiểm sát hoạt động tương trợ tư pháp.

Thứ hai, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 đã mở rộng thẩm quyền của Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân cả về loại tội và chủ thể thực hiện tội phạm. Theo Luật năm 2014, Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Cơ quan điều tra Viện kiểm sát quân sự trung ương không chỉ điều tra các tội xâm phạm hoạt động tư pháp mà còn điều tra các tội phạm về tham nhũng, chức vụ xảy ra trong hoạt động tư pháp mà người phạm tội là cán bộ, công chức thuộc Cơ quan điều tra, Tòa án, Viện kiểm sát, Cơ quan Thi hành ánngười có thẩm quyền tiến hành hoạt động tư pháp.

Thứ ba, về tổ chức bộ máy của Viện kiểm sát nhân dân: Luật năm 2014 quy định có 04 cấp (Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân cấp cao, Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện); trong đó Viện kiểm sát nhân dân cấp cao là cấp kiểm sát mới, có nhiệm vụ thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp đối với các vụ án, vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp cao.

Thứ tư, về Kiểm sát viên và Kiểm tra viên: Luật năm 2014 quy định có 04 ngạch (Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm sát viên cao cấp, Kiểm sát viên trung cấp, Kiểm sát viên sơ cấp). Quy định tiêu chuẩn bổ nhiệm Kiểm sát viên cao cấp tương ứng với tiêu chuẩn bổ nhiệm Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao hiện nay và nâng cao tiêu chuẩn bổ nhiệm Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Về số lượng Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao: Luật năm 2014 quy định không quá 19 người. Về nhiệm kỳ Kiểm sát viên: Luật năm 2014 quy định: Kiểm sát viên được bổ nhiệm lần đầu có thời hạn là 05 năm, trường hợp được bổ nhiệm lại hoặc nâng ngạch thì thời hạn là 10 năm. Về cơ chế tuyển chọn Kiểm sát viên: Luật năm 2014 quy định: Áp dụng hình thức thi tuyển vào các ngạch Kiểm sát viên sơ cấp, trung cấp, cao cấp. Không áp dụng hình thức thi tuyển vào ngạch đối với Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Luật năm 2014 quy định Kiểm tra viên là chức danh tư pháp, được bổ nhiệm để giúp Kiểm sát viên thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp và thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn khác theo sự phân công của Viện trưởng. Kiểm tra viên có 03 ngạch như hiện nay (Kiểm tra viên, Kiểm tra viên chính, Kiểm tra viên cao cấp).

Thứ năm, về Viện kiểm sát quân sự: Luật năm 2014 quy định hệ thống Viện kiểm sát quân sự không tổ chức theo bốn cấp như trước mà tổ chức theo ba cấp gồm: Viện kiểm sát quân sự Trung ương, Viện kiểm sát quân sự Quân khu và tương đương, Viện kiểm sát quân sự khu vực.

Trên mỗi chặng đường lịch sử đã qua, Viện kiểm sát nhân dân đã vượt qua nhiều khó khăn, thử thách để hoàn thành nhiệm vụ mà Đảng và nhân dân giao phó. Chúc cho chặng đường mới, trên mỗi bước đi ngành Kiểm sát nhân dân sẽ có nhiều bước tiến và luôn vững mạnh hơn nữa. Để có được chặng đường 60 năm ấy, là cả một quá trình hun đúc bằng tình cảm, bằng tâm huyết, sự cống hiến không mệt mỏi của đội ngũ lãnh đạo và bao thế hệ cán bộ kiểm sát. Và mong rằng mỗi cán bộ, công chức ngành kiểm sát nhân dân nói chung, cán bộ ngành kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai nói riêng sẽ luôn quý trọng những những công lao của các bậc cha anh, trân trọng những tình cảm tốt đẹp mà các đồng nghiệp trong cơ quan, trong ngành đã dành cho nhau, và luôn tin tưởng sâu sắc rằng, những thành tựu, tình cảm đó sẽ tiếp tục được vun đắp và mãi mãi là niềm tự hào của những cán bộ, Kiểm sát viên ngành Kiểm sát nhân dân, để chúng ta cùng nhau vượt qua những khó khăn trong công tác và đạt được những thành tích to lớn hơn cho những chặng đường về sau./. 

                                   Trần Thanh Sơn- Phòng 10 VKSND tỉnh Đồng Nai​      

                                                 




Các tin đã đăng ngày
Select a date from the calendar.
 
 

 Video

 
Thư viện video
 

 Thư viện ảnh

 
ĐĂNG NHẬP