Trang chủ : Nội dung tin Home
Tìm kiếm
 

 Góp ý

 

Mọi thông tin góp ý xin vui lòng liên hệ qua email:
Thanhnguyen99ct2@gmail.com

 

 Tin tức ngành

 
Hội nghị trực tuyến Tập huấn pháp luật về Đất đai trong ngành Kiểm sát nhân dân Cập nhật: 26-05-2020 10:31
Chiều ngày 18/5/2020 (thứ hai), Viện kiểm sát nhân dân Tối Cao tổ chức Hội nghị trực tuyến “Tập huấn pháp luật về Đất đai trong ngành Kiểm sát nhân dân”. Điểm cầu tại các địa phương là toàn thể công chức Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện; các Kiểm sát viên, công chức làm công tác kiểm sát án hình sự, dân sự, hành chính và thi hành án dân sự của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh.

​           Tài liệu tập huấn pháp luật về đất đai gồm có 6 nhóm chính, cụ thể:

- Nhóm 1: chính sách về giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất.

- Nhóm 2: chính sách về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.

- Nhóm 3: chính sách về giá đất.

- Nhóm 4:chính sách về đăng ký đất đai, cấp giấy chứng nhận.

- Nhóm 5: chính sách quản lý, sử dụng đất nông nghiệp.

- Nhóm 6: là những quy định về giải quyết tranh chấp và xử lý vi phạm trong lĩnh vực đất đai.                                                              VPTH26052020.jpg


Hình ảnh điểm cầu trực tuyến tại Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai

 

Một số nội dung đáng chú ý là các vấn đề về thu hồi đất, giải quyết tranh chấp và cưỡng chế đất đai. Theo đó, các trường hợp Nhà nước thu hồi đất không được bồi thường về đất, gồm có:

1) Các trường hợp quy định tại Khoản 1 Điều 76 của Luật Đất đai năm 2013, cụ thể bao gồm:

- Đất được Nhà nước giao không thu tiền sử dụng đất, trừ trường hợp đất nông nghiệp được Nhà nước giao cho hộ gia đình, cá nhân quy định tại khoản 1 Điều 54 của Luật Đất đai năm 2013;

- Đất được Nhà nước giao cho tổ chức thuộc trường hợp có thu tiền sử dụng đất nhưng được miễn tiền sử dụng đất;

- Đất được Nhà nước cho thuê trả tiền thuê đất hàng năm; đất thuê trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê nhưng được miễn tiền thuê đất, trừ trường hợp hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất thuê do thực hiện chính sách đối với người có công với cách mạng;

- Đất nông nghiệp thuộc quỹ đất công ích của xã, phường, thị trấn;

- Đất nhận khoán để sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối.

2) Đất được Nhà nước giao để quản lý.

3) Đất thu hồi trong các trường hợp quy định tại Điều 64 của Luật Đất đai năm 2013, cụ thể bao gồm:

- Sử dụng đất không đúng mục đích đã được Nhà nước giao, cho thuê, công nhận quyền sử dụng đất và đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng đất không đúng mục đích mà tiếp tục vi phạm;

- Người sử dụng đất cố ý hủy hoại đất;

- Đất được giao, cho thuê không đúng đối tượng hoặc không đúng thẩm quyền;

- Đất không được chuyển nhượng, tặng cho theo quy định của Luật này mà nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho;

- Đất được Nhà nước giao để quản lý mà để bị lấn, chiếm;

- Đất không được chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của Luật Đất đai mà người sử dụng đất do thiếu trách nhiệm để bị lấn, chiếm;

- Người sử dụng đất không thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước và đã bị xử phạt vi phạm hành chính mà không chấp hành;

- Đất trồng cây hàng năm không được sử dụng trong thời hạn 12 tháng liên tục; đất trồng cây lâu năm không được sử dụng trong thời hạn 18 tháng liên tục; đất trồng rừng không được sử dụng trong thời hạn 24 tháng liên tục;

- Đất được Nhà nước giao, cho thuê để thực hiện dự án đầu tư mà không được sử dụng trong thời hạn 12 tháng liên tục hoặc tiến độ sử dụng đất chậm 24 tháng so với tiến độ ghi trong dự án đầu tư kể từ khi nhận bàn giao đất trên thực địa phải đưa đất vào sử dụng; trường hợp không đưa đất vào sử dụng thì chủ đầu tư được gia hạn sử dụng 24 tháng và phải nộp cho Nhà nước khoản tiền tương ứng với mức tiền sử dụng đất, tiền thuê đất đối với thời gian chậm tiến độ thực hiện dự án trong thời gian này; hết thời hạn được gia hạn mà chủ đầu tư vẫn chưa đưa đất vào sử dụng thì Nhà nước thu hồi đất mà không bồi thường về đất và tài sản gắn liền với đất, trừ trường hợp do bất khả kháng”. (Khoản 1 Điều 64 của Luật Đất đai năm 2013)

4) Đất thu hồi trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d Khoản 1 Điều 65 của Luật Đất đai năm 2013, cụ thể gồm:

- Tổ chức được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất, được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất mà tiền sử dụng đất có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước bị giải thể, phá sản, chuyển đi nơi khác, giảm hoặc không còn nhu cầu sử dụng đất; người sử dụng đất thuê của Nhà nước trả tiền thuê đất hàng năm bị giải thể, phá sản, chuyển đi nơi khác, giảm hoặc không còn nhu cầu sử dụng đất;

- Cá nhân sử dụng đất chết mà không có người thừa kế;

- Người sử dụng đất tự nguyện trả lại đất;

- Đất được Nhà nước giao, cho thuê có thời hạn nhưng không được gia hạn”.

5) Trường hợp không đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật Đất đai, trừ trường hợp đất nông nghiệp trong hạn mức giao đất đã sử dụng trước ngày 01/7/2004 mà người sử dụng đất là hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp nhưng không có Giấy chứng nhận hoặc không đủ điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật Đất đai.

 

          * Về công tác hòa giải tranh chấp đất đai

Theo quy của Luật Đất đai năm 2013 và Nghị định số 43 ngày 15/5/2014 quy định chi tiết thi hành một số điều, khoản của Luật Đất đai thì:

- Thời gian hòa giải tại cấp xã là 45 ngày (Luật Đất đai năm 2003 quy định 30 ngày nhưng thời gian này thường bị vi phạm) để đảm bảo thời gian giải quyết hòa giải. Tuy nhiên, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm quy định cụ thể thời gian tiến hành từng bước công việc hòa giải để đảm bảo thời gian thực hiện đúng quy định.

- Trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã khi nhận được đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp đất đai phải thực hiện các công việc: Thẩm tra, xác minh; Thành lập Hội đồng hòa giải tranh chấp đất đai; Tổ chức cuộc họp hòa giải.

          - Quy định trách nhiệm tham gia cuộc họp hòa giải của các bên tranh chấp, thành viên Hội đồng hòa giải tranh chấp đất đai và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Việc hòa giải chỉ được tiến hành khi các bên tranh chấp đều có mặt. Trường hợp một trong các bên tranh chấp vắng mặt đến lần thứ hai thì được coi là việc hòa giải không thành”.

- Quy định cụ thể về tính pháp lý của biên bản hòa giải, gồm có: Việc bắt buộc phải lập biên bản hòa giải; Nội dung biên bản hòa giải gồm: thời gian và địa điểm tiến hành hòa giải; thành phần tham dự hòa giải; tóm tắt nội dung tranh chấp thể hiện rõ về nguồn gốc, thời điểm sử dụng đất đang tranh chấp, nguyên nhân phát sinh tranh chấp (theo kết quả xác minh, tìm hiểu); ý kiến của Hội đồng hòa giải tranh chấp đất đai; những nội dung đã được các bên tranh chấp thỏa thuận, không thỏa thuận. Việc ký và đóng dấu đối với biên bản hòa giải: Biên bản hòa giải phải có chữ ký của Chủ tịch Hội đồng, các bên tranh chấp có mặt tại buổi hòa giải, các thành viên tham gia hòa giải và phải đóng dấu của Ủy ban nhân dân cấp xã; Việc gửi biên bản hòa giải cho các bên tranh chấp và lưu tại Ủy ban nhân dân cấp xã.

- Thủ tục xem xét lại kết quả hòa giải trong trường hợp sau thời hạn 10 ngày kể từ ngày lập biên bản hòa giải thành mà các bên tranh chấp có ý kiến bằng văn bản về nội dung khác với nội dung đã thống nhất trong biên bản hòa giải thành. Trong trường hợp này Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm tổ chức lại cuộc họp Hội đồng hòa giải để xem xét giải quyết đối với ý kiến bổ sung và phải lập biên bản hòa giải thành hoặc không thành.

- Trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã trong việc lập biên bản hòa giải không thành và hướng dẫn các bên tranh chấp gửi đơn đến cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp tiếp theo đối với trường hợp hòa giải không thành hoặc sau khi hòa giải thành mà có ít nhất một trong các bên thay đổi ý kiến về kết quả hòa giải.

* Về thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai:

Tranh chấp đất đai mà đương sự có Giấy chứng nhận hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật Đất đai năm 2013 và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì do Tòa án nhân dân giải quyết. Tranh chấp đất đai mà đương sự không có Giấy chứng nhận hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật Đất đai năm 2013 thì đương sự chỉ được lựa chọn một trong hai hình thức giải quyết tranh chấp đất đai theo quy định sau đây:

- Nộp đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền (Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp tỉnh, Bộ Tài nguyên và Môi trường);

- Khởi kiện tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.

Như vậy, đến giai đoạn này Luật Đất đai năm 2013 đã mở rộng tối đa quyền lựa chọn con đường giải quyết tranh chấp đất đai của các đương sự. Tuy nhiên, đương sự chỉ được phép đi theo một trong hai con đường hoặc do cơ quan hành chính giải quyết theo thủ tục giải quyết tranh chấp do cơ quan hành chính quy định và thủ tục tố tụng hành chính (án hành chính) hoặc do Tòa án nhân dân giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự (án dân sự).

Trường hợp đương sự lựa chọn giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền thì việc giải quyết tranh chấp đất đai được thực hiện như sau:

- Trường hợp tranh chấp giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư với nhau thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện giải quyết; nếu không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính;

- Trường hợp tranh chấp mà một bên tranh chấp là tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giải quyết; nếu không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính;

          Quy định nêu trên của Luật Đất đai năm 2013 đã khắc phục được nhược điểm của Luật Tố tụng hành chính năm 2010 đó là không phân định được thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai giữa Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc cấp huyện do đó có thể dẫn tới hộ gia đình, cá nhân có thể khiếu nại đến Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường.

Ngoài ra, để khắc phục tình trạng một số cơ quan giải quyết tranh chấp đất đai nhưng không ban hành quyết định giải quyết mà chỉ ban hành các thông báo, kết luận hoặc công văn, làm cho các đương sự gặp khó khăn trong việc nộp đơn yêu cầu giải quyết đến cơ quan có thẩm quyền tiếp theo; đồng thời để khắc phục tình trạng nhiều quyết định giải quyết tranh chấp của Ủy ban nhân dân được ban hành nhưng không được thi hành khiến cho quyền lợi của các bên tranh chấp bị xâm phạm; Luật Đất đai năm 2013 đã quy định rõ: Người có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai phải ra quyết định giải quyết tranh chấp. Quyết định giải quyết tranh chấp có hiệu lực thi hành phải được các bên tranh chấp nghiêm chỉnh chấp hành. Trường hợp các bên không chấp hành sẽ bị cưỡng chế thi hành”.

* Về nguyên tắc và điều kiện cưỡng chế quyết định giải quyết tranh chấp đất đai

- Nguyên tắc: Công khai, dân chủ, khách quan, bảo đảm trật tự, an toàn, đúng quy định của pháp luật; Thời điểm bắt đầu cưỡng chế được thực hiện trong giờ hành chính; Không được cưỡng chế trong thời gian từ 22 giờ đến 06 giờ sáng ngày hôm sau; các ngày nghỉ, ngày lễ theo quy định; trong thời gian 15 ngày trước và sau tết nguyên đán; các ngày truyền thống đối với đối tượng chính sách và các trường hợp đặc biệt khác làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội, phong tục, tập quán tại địa phương.

- Điều kiện: Quyết định giải quyết tranh chấp đã có hiệu lực thi hành và đã tổ chức vận động, thuyết phục mà không chấp hành. Quyết định giải quyết tranh chấp đã được niêm yết công khai theo quy định. Quyết định cưỡng chế thực hiện quyết định giải quyết tranh chấp đã có hiệu lực thi hành. Người bị cưỡng chế đã nhận được Quyết định cưỡng chế.

* Về trình tự, thủ tục thực hiện cưỡng chế

- Chủ tịch UBND huyện thành lập Ban thực hiện cưỡng chế, thành phần gồm: Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch UBND cấp huyện là trưởng ban; Thành viên đại diện cho các cơ quan cấp huyện gồm thanh tra, tư pháp, tài nguyên và môi trường, xây dựng; đại diện lãnh đạo UBND cấp xã nơi có đất và các thành viên khác do Chủ tịch UBND cấp huyện quyết định.

- Ban thực hiện cưỡng chế vận động, thuyết phục, đối thoại với người bị cưỡng chế; nếu đồng ý thì lập thành Biên bản ghi nhận việc chấp hành; nếu không chấp hành thì tổ chức cưỡng chế và buộc người bị cưỡng chế thực hiện các nội dung của quyết định giải quyết tranh chấp đất đai.

* Về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai

Về cơ bản Luật Đất đai năm 2013 kế thừa các quy định của Luật Đất đai năm 2003 về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai, các hành vi vi phạm và việc xử lý cụ thể sẽ được Chính phủ quy định chi tiết. Tuy nhiên, Luật Đất đai năm 2013 có bổ sung một số hành vi vi phạm của người vi phạm pháp luật về đất đai khi thi hành công vụ trong lĩnh vực đất đai như sau: Bổ sung hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn làm trái với quy định của pháp luật trong bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; Vi phạm quy định về lấy ý kiến, công bố, công khai thông tin; vi phạm quy định trình tự, thủ tục hành chính; vi phạm quy định về báo cáo trong quản lý đất đai.

Chính phủ đã ban hành Nghị định số 91/2019/NĐ-CP ngày 19 tháng 11 năm 2019 thay thế Nghị định số 102/2014/NĐ-CP ngày 10 tháng 11 năm 2014 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai. Nội dung Nghị định đã bổ sung đầy đủ các hành vi vi phạm trong lĩnh vực đất đai; tăng nặng mức xử phạt đối với một số hành vi như chuyển mục đích đất lúa sang đất ở, bỏ hoang đất, hủy hoại đất, lấn, chiếm đất, thực hiện giao dịch khi chưa có Giấy chứng nhận,…; bổ sung các biện pháp khắc phục hậu quả cụ thể đối với từng hành vi để đảm bảo tính khả thi trong tổ chức thực hiện./.

 

                       Nguyễn Văn Huyện -Văn phòng VKSND tỉnh Đồng Nai
Các tin đã đăng ngày
Select a date from the calendar.
 
 

 Video

 
Thư viện video
 

 Thư viện ảnh

 
ĐĂNG NHẬP