Trang chủ : Nội dung tin Home
Tìm kiếm
 

 Góp ý

 

Mọi thông tin góp ý xin vui lòng liên hệ qua email:
Thanhnguyen99ct2@gmail.com

 

 Tin tức ngành

 
01 vụ án kinh doanh thương mại bị Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm để giải quyết lại Cập nhật: 11-02-2020 03:21
Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần công thương Việt Nam có đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn ông Lại Văn Kiến và bà Huỳnh Thị Nga có trách nhiệm trả cho Ngân hàng số tiền nợ là 7.432.312.500 đồng, trong đó nợ gốc là 3.000.000.000 đồng, nợ lãi là 3.114.125.000 đồng; tiền lãi phạt là 1.318.187.500 đồng.
 

​        Đồng thời, yêu cầu xử lý tài sản thế chấp để đảm bảo thi hành án gồm: Diện tích đất 44.771m2 tại xã Bình Lợi, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai do ông Lại Văn Kiến, bà Huỳnh Thị Nga đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và diện tích 25.194m2 tại xã Thừa Đức, huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai do ông Tsằn A Si đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Phía bị đơn ông Lại Văn Kiến, bà Huỳnh Thị Nga không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng vì cho rằng: Vào ngày 25/05/2008 bà Hồ Thị Yến Vy có nhờ vợ chồng ông bà đứng ra vay giùm bà Vy số tiền 3.000.000.000đ (ba tỷ đồng) tại Ngân hàng thương mại cổ phần công thương Việt Nam- chi nhánh Long Thành theo hợp đồng tín dụng số 08030033/HĐTD ngày 25/05/2008, bà Vy có làm giấy xác nhận với ông vào ngày 16/05/2009 là có nhờ vợ chồng ông đứng tên vay giùm bà Vy 3.000.000.000 đồng tại Ngân hàng, ông bà không hề nhận số tiền 3.000.000.000 đồng, ông bà chỉ ký tên vay giùm bà Vy và cũng không biết ông Tsằn A Si và bà Lê Thị Đức là ai cho đến khi được Tòa án mời lên làm việc thì mới biết ông Si và bà Đức.

Phía ông Trần Tấn Phát là đại diện theo ủy quyền cho bà Đức và anh Trần Quang Nhục (người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Si) cũng cho rằng: Ông Si và bà Đức không hề quen biết ông Kiến và bà Nga, vào khoảng năm 2007, Ông Si bà Đức bị mất giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đến khi Tòa án thành phố Biên Hòa mời ông Si, bà Đức lên làm việc thì ông Si, bà Đức mới biết giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Si đã được thế chấp tại Ngân hàng thương mại cổ phần công thương Việt Nam - chi nhánh Long Thành để đảm bảo khoản vay của ông Kiến và bà Nga. Do ông Si, bà Đức không ký hợp đồng thế chấp bằng quyền sử dụng đất của bên thứ 3 nên không đồng ý yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng.

-Tại bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 13/2019/KDTM-ST ngày 12 tháng 7 năm 2019 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai tuyên xử:

-Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần công thương Việt Nam.

-Buộc ông Lại Văn Kiến và bà Huỳnh Thị Nga có trách nhiệm trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần công thương Việt Nam số tiền 7.432.312.500đ (Bảy tỷ bốn trăm ba mươi hai triệu năm trăm nghìn đồng) trong đó nợ gốc là 3.000.000.000đ (Ba tỷ đồng), nợ lãi là 3.114.125.000đ (Ba tỷ một trăm mười bốn triệu một trăm hai mươi lăm nghìn đồng); lãi phạt là 1.318.187.500đ (một tỷ ba trăm mười tám triệu một trăm tám mươi bảy nghìn năm trăm đồng). Kể từ ngày 13/07/2019, ông Kiến, bà Nga không thanh toán số tiền nợ trên thì phải chịu nợ lãi phát sinh theo mức lãi suất mà các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng số 08030033/HĐTD ngày 25/05/2008 cho đến khi thi hành án xong.

-Tài sản bảo đảm thi hành án, gồm: Diện tích đất 44.771m2 tại xã Bình Lợi, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai do ông Lại Văn Kiến và bà Huỳnh Thị Nga đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và diện tích 25.194m2 tại xã Thừa Đức, huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai do ông Tsằn A Si đứng tên theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí, nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự.

*Vi phạm của cấp sơ thẩm như sau:

-Về thủ tục tố tụng:

Tài liệu hồ sơ thể hiện: Theo đơn khởi kiện ban đầu của Ngân hàng thương mại cổ phần công thương Việt Nam để đảm bảo khoản nợ vay nêu trên phía bị đơn còn thế chấp 02 diện tích đất: 9.850 m2 tại xã Xuân Tây, huyện Cẩm Mỹ và 4.357 m2 đất tại xã Xuân Đông, huyện Cẩm Mỹ do ông Nguyễn Tự Cường và bà Hồ Thị Yến Trúc đứng tên trên giấy chứng nhận QSD đất; Đến ngày 17/6/2019, nguyên đơn có đơn đề nghị rút một phần nội dung khởi kiện đối với ông Nguyễn Tự Cường, bà Hồ Thị Yến Trúc về tài sản thế chấp là 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại xã Xuân Đông, huyện Cẩm Mỹ, vì: Ông Cường, bà Trúc đã phối hợp với Ngân hàng xử lý tài sản thế chấp để thực hiện nghĩa vụ bảo đảm với bên thứ ba với số tiền nợ gốc là 182.000.000 đồng. Tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn có ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án ông Cường, bà Trúc đã phối hợp với Ngân hàng xử lý tài sản thế chấp để thực hiện nghĩa vụ bảo đảm của bên thứ ba với số tiền nợ gốc là 182.000.000 đồng và 644.000.000 đồng nên Ngân hàng không yêu cầu Tòa án xử lý hai tài sản thế chấp là: Diện tích 9.850m2 tại xã Xuân Tây và diện tích đất 4.357m2 tại xã Xuân Đông, huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai do ông Cường và bà Trúc đứng tên theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Xét thấy, Tòa cấp sơ thẩm căn cứ vào đơn đề nghị rút một phần nội dung yêu cầu khởi kiện đề ngày 17/6/2019 và ý kiến của Ngân hàng tại phiên tòa, không đưa ông Cường, bà Trúc vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án, trong khi nguyên đơn không có đơn xin rút phần yêu cầu khởi kiện đối với tài sản thế chấp của bên thứ ba là diện tích đất 9.850m2 tại xã Xuân Tây, huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai do ông Nguyễn Tự Cường và bà Hồ Thị Yến Trúc đứng tên và Tòa án cũng chưa có quyết định xử lý gì đối với 02 tài sản thế chấp của bên thứ ba là quyền sử dụng đất của ông Cường, bà Trúc theo đơn khởi kiện ban đầu của Ngân hàng là bỏ sót tư cách người tham gia tố tụng, vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng theo quy định tại khoản 1 Điều 73 Bộ luật tố tụng dân sự. Lẽ ra, Kiểm sát viên tham gia kiểm sát xét xử cần phải yêu cầu Tòa cấp sơ thẩm đưa ông Cường, bà Trúc vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án và tại phiên tòa hỏi xem nguyên đơn có rút phần yêu cầu khởi kiện đối với ông Cường và bà Trúc hay không để xem xét có chấp nhận hay không chấp nhận việc rút phần yêu cầu này của nguyên đơn. Trường hợp tại phiên tòa, nguyên đơn rút phần yêu cầu khởi kiện này và việc rút đơn là tự nguyện, không trái pháp luật, không ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự khác thì căn cứ vào khoản 2 Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phần yêu cầu khởi kiện mà nguyên đơn đã rút trong bản án mới đúng quy định pháp luật.

-Về nội dung:

Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn xác định ông Cường, bà Trúc đã phối hợp với Ngân hàng xử lý tài sản thế chấp để thực hiện nghĩa vụ bảo đảm của bên thứ ba với số tiền nợ gốc là 644.000.000 đồng và đã được trừ vào số tiền nợ gốc mà ông Kiến, bà Nga đã vay của Ngân hàng nhưng Kiểm sát viên tham gia kiểm sát xét xử thống nhất quan điểm với Tòa cấp sơ thẩm chưa xem xét khấu trừ phần nợ đã được thanh toán vẫn buộc phía bị đơn có trách nhiệm thanh toán cho nguyên đơn số tiền vốn gốc 3.000.000.000 đồng là thiếu sót, ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn.

Về chi phí tố tụng: Chi phí xem xét thẩm định tại chổ và chi phí giám định, cấp sơ thẩm nhận định ghi nhận sự tự nguyện của Ngân hàng chịu 3.000.000 đồng chi phí xem xét thẩm định tại chổ và ông Si, bà Đức phải chịu 6.000.000 đồng chi phí giám định nhưng phần quyết định không tuyên phần này là thiếu sót, cần rút kinh nghiệm phần này đối với cấp sơ thẩm.

Do bản án sơ thẩm nêu trên của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, giải quyết vụ án không đảm bảo tính khách quan, gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự nên Tòa cấp phúc thẩm tuyên xử: Hủy toàn bộ bản án sơ thẩm, giao hồ sơ cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết theo thủ tục chung.

 

                                                            

                                   Nguyễn Thị Bình​ Kiểm sát viên trung cấp                                                                       

Các tin đã đăng ngày
Select a date from the calendar.
 
 

 Video

 
Thư viện video
 

 Thư viện ảnh

 
  • Cán bộ, công chức Viện kiểm sá...
ĐĂNG NHẬP