Trang chủ : Nội dung tin Home
Tìm kiếm
 

 Góp ý

 

Mọi thông tin góp ý xin vui lòng liên hệ qua email:
Thanhnguyen99ct2@gmail.com

 

 Tin pháp luật

 
Rút kinh nghiệm công tác kiểm sát việc giải quyết vụ án: “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” Cập nhật: 24-05-2019 02:19
Thông qua công tác kiểm sát theo thủ tục phúc thẩm đối với vụ án: “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” giữa nguyên đơn: Bà Đoàn Thị Q với bị đơn: Ông Võ Văn G, bà Nguyễn Thúy H. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: 03 người, gồm: Lưu Hoàng V, Hồ Thị Q, Quách Văn C. Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai nhận thấy có nhiều vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng, bị Tòa cấp phúc thẩm hủy án cần rút kinh nghiệm chung nhằm nâng cao chất lượng công tác kiểm sát hoạt động tư pháp.

​            1.Tóm tắt nội dung vụ án:

Năm 2003, vợ chồng ông G, bà H bị nhà nước thu hồi và được cấp một lô đất tái định cư N50 diện tích 154 m2 tại ấp 2, xã Phước Khánh, huyện Nhơn Trạch. Năm 2007, ông G, bà H bán lô đất N50 cho ông Lưu Hoàng V (mua bán giấy tay). Khoảng 01 tháng sau, anh V bán lô đất lại cho bà Q với giá 160.000.000 đ. Do vợ chồng ông G đứng tên trên quyết định cấp đất và theo yêu cầu của anh V và bà Q nên ngày 26/6/2007 ông G, bà H ký hợp đồng mua bán đất và Tờ thỏa thuận cam kết với nội dung ông G, bà H bán cho bà Q lô đất N50 nêu trên

Năm 2012, bà Q yêu cầu ông G bà H cung cấp giấy tờ, hoàn tất thủ tục sang tên cho bà Q nhưng ông G, bà H yêu cầu bà Q đưa thêm 30.000.000 đ mới hợp tác. Bà Q không đồng ý và đưa đơn ra công an xã. Khi đó, các bên thống nhất thỏa thuận bà Q sẽ hổ trợ thêm cho ông G, bà H 18.000.000 đ thì ông G, bà H sẽ hoàn tất thủ tục sang tên cho bà Q. Tuy nhiên, theo ông G, bà H thì bà Q chỉ mới đưa trước cho ông, bà 5.000.000 đ (theo bà Q thì bà đưa trước 6.000.000 đ) số tiền còn lại bà Q nói sẽ giao đủ khi sang tên xong. Ngày 21/4/2017, bà Q làm đơn khởi kiện yêu cầu ông G, bà H tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng QSD đất nêu trên cho bà, bà sẽ trả số tiền 12.000.000 đ cho vợ chồng ông G. Vợ chồng ông G, bà H không đồng ý và ngày 27/6/2018, ông G, bà H làm đơn phản tố yêu cầu tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng QSD đất ngày 26/6/2007 vô hiệu. Ông, bà đồng ý trả cho bà Q số tiền chuyển nhượng 160.000.000 đ và số tiền nhận hổ trợ là 5.000.000 đ.

 

2. Kết quả giải quyết của Tòa án:

*Tại bản án dân sự sơ thẩm số 48/2018/DS-ST ngày 28/8/2018 của TAND huyện Nhơn Trạch tuyên xử:

 

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng QSD đất” của bà Đoàn Thị Q đối với vợ chồng ông G, bà H;

Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố về việc: “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng QSD đất” của bị đơn ông G, bà H đối với bà Q

Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng QSD đất ký ngày 26/7/2007 giữa bà Q với vợ, chồng ông G, bà H là vô hiệu;

Xử hủy hợp đồng chuyển nhượng QSD đất ký ngày 26/7/2007 giữa bà Q với vợ, chồng ông G, bà H

Buộc ông G, bà H phải trả cho bà Q số tiền 393.000.000 đ (trong đó phải trả 165.000.000 đ đã nhận và bồi thường cho bà Q số tiền 228.000.000 đ)

Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí dân sự sơ thẩm, quyền kháng cáo của các đương sự.

Sau khi án sơ thẩm xử, nguyên đơn bà Q có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm của TAND huyện Nhơn Trạch.

 

*Tại bản án dân sự phúc thẩm số 39/2019/DS-PT ngày 11/4/2019 Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai tuyên xử:

Hủy toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm số 48/2018/DS-ST ngày 28/8/2018 của TAND huyện Nhơn Trạch, chuyển toàn bộ hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.

 

3.Một số vấn đề rút kinh nghiệm đối với Kiểm sát viên:

Vụ án trên, Tòa cấp sơ thẩm có nhiều sai sót trong quá trình tiến hành giải quyết vụ án, vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, không thu thập đầy đủ các chứng cứ và chứng minh không đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa cấp phúc thẩm hủy án cũng có phần lỗi của Kiểm sát viên được Lãnh đạo phân công tham gia kiểm sát xét xử, nguyên nhân là khi nhận được hồ sơ vụ án, Kiểm sát viên được phân công chưa nghiên cứu kỹ hồ sơ như: Đơn khởi kiện, các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ, lời trình bày cũng như yêu cầu của đương sự, chưa kiểm sát chặt chẽ thủ tục tố tụng trong việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán.Từ đó, việc đề xuất về thủ tục tố tụng, về đường lối giải quyết vụ án của Kiểm sát viên tại phiên tòa không phù hợp, không phát hiện được vi phạm để tham mưu kháng nghị kịp thời.

Cụ thể:

-Tòa cấp sơ thẩm giải quyết vụ án tranh chấp liên quan đến quyền sử dụng đất nhưng không sao lục hồ sơ thửa đất, chỉ xác định đất có số lô N50 mà không xác định số tờ, số thửa, không xác minh về tình trạng cấp giấy chứng nhận QSD đất tại Văn phòng đăng ký đất đai, không xác minh làm rõ đất có được giao hay chưa, ai là người quản lý đất…để từ đó mới có căn cứ xác định đường lối giải quyết tranh chấp theo Hướng dẫn tại Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 về việc hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các vụ án dân sự, HNGĐ của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

-Cấp sơ thẩm xác định đây là trường hợp hợp đồng vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức theo Điều 134 BLDS năm 2005 nhưng lại không thu thập ý kiến của các bên có yêu cầu thực hiện đúng quy định về hình thức hợp đồng hay không để buộc các bên hoàn thiện hình thức hợp đồng là thiếu sót vì đây cũng là một trong những căn cứ để xác định lỗi và trách nhiệm bồi thường của các bên.

-Cấp sơ thẩm không tiến hành xác minh làm rõ một số mâu thuẩn trong lời khai của các bên về số lô đất (Hai người làm chứng là Đinh Thị N và Võ Anh K khai số lô đất là N54, trong khi các người khác khai số lô đất là N50, trong khi lô đất cũng không được xác định số tờ, số thửa) và về số tiền hỗ trợ đã giao (nguyên đơn khai đã giao số tiền hỗ trợ là 6.000.000 đ trong khi bị đơn khai số tiền hỗ trợ là 5.000.000 đ);

Tại các văn bản tố tụng của Tòa cấp sơ thẩm (biên bản làm việc, quyết định tạm đình chỉ, biên bản xem xét thẩm định tại chỗ, thông báo về phiên hòa giải, thông báo về thụ lý đơn phản tố, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử…) đã không xác định và thể hiện có người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là Hồ Thị Q và Quách Văn C. Quá trình giải quyết vụ án ông C không có đơn xin vắng mặt phiên kiểm tra chứng cứ và hòa giải, ông Lưu Hoàng V không xin vắng mặt phiên kiểm tra chứng cứ nhưng tất cả các phiên hòa giải và công khai chứng cứ đều không có mặt ông C, ông V cũng như không thể hiện Tòa án đã tống đạt hợp lệ cho các ông về các buổi làm việc, hòa giải, công khai chứng cứ mà các ông chưa có đơn yêu cầu vắng mặt.

Tại biên bản xem xét thẩm định tại chỗ và biên bản xem xét thẩm định giá không thể hiện nội dung Tòa án tiến hành việc xem xét thẩm định tại chỗ và thẩm định giá đối với thửa đất nào, tờ bản đồ bao nhiêu?

Thủ tục thẩm định giá không thực hiện đúng quy định tại Điều 104 BLTTDS đó là: Tòa án không lập biên bản hoặc yêu cầu đương sự có ý kiến về giá trước khi thẩm định giá, không cho các đương sự thỏa thuận lựa chọn tổ chức thẩm định giá, không thông báo cho bị đơn biết việc lựa chọn của nguyên đơn để bị đơn có ý kiến.

 

Để nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm sát giải quyết các vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình nói chung và  công tác kháng nghị phúc thẩm các vụ, việc dân sự nói riêng, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai ra thông báo để các đồng chí nghiên cứu, tăng cường hơn nữa công tác kiểm sát giải quyết các vụ việc dân sự trong thời gian tới và nhận diện vi phạm rút kinh nghiệm chung./.

 

                                                                         
                               La Minh Dũng – Phòng 9
Các tin đã đăng ngày
Select a date from the calendar.
 
 

 Video

 
Thư viện video
 

 Thư viện ảnh

 
ĐĂNG NHẬP