Trang chủ : Nội dung tin Home
Tìm kiếm
 

 Góp ý

 

Mọi thông tin góp ý xin vui lòng liên hệ qua email:
Thanhnguyen99ct2@gmail.com

 

 Tin tức ngành

 
Thực trạng những khó khăn, vướng mắc và các giải pháp nhằm nâng cao trong công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra, xét xử đối với các vụ xâm hại tình dục trẻ em tại huyện Nhơn Trạch Cập nhật: 07-05-2019 04:30
Trong thời gian qua trên các phương tiện thông tin đại chúng liên tục đưa tin các vụ xâm hại tình dục đối với trẻ em. Nhằm nâng cao hơn nữa trong công tác đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung và đối với các loại tội phạm xâm hại tình dục trẻ em nói riêng. Trên đây là một số tổng hợp những khó khăn, vướng mắc và các giải pháp nhằm nâng cao hơn nữa trong công tác THQCT, KSĐT, XX đối với các loại tội xâm hại tình dục trẻ em tại địa phương huyện Nhơn Trạch.

1. Một số nguyên nhân của tình hình tội phạm nêu trên:

* Thứ nhất: Nguyên nhân từ phía gia đình.

- Gia đình có hoàn cảnh khó khăn, sự nghèo đói lạc hậu, không có điều kiện để chăm sóc quản lý giáo dục các em, thường để các em ở nhà một mình hoặc gửi các em ở những đối tượng không đáng tin cậy, do sự thiếu thốn tình cảm, sống trong hoàn cảnh gia đình không hoàn thiện, lại không được học hành chu đáo, dẫn đến tình trạng các em bị lợi dụng rủ rê hoặc ép buộc vào các hành vi phạm tội ngoài ý muốn.

- Do cha mẹ các em thiếu quan tâm, buông lỏng quản lý, chưa giáo dục thường xuyên về đạo đức lối sống cho trẻ, thiếu kiến thức, phương pháp giáo dục về giới tính và hướng dẫn trẻ cách phòng ngừa.

- Cha, mẹ có nhiều mâu thuẫn, cãi vả, ảnh hưởng xấu đến tâm sinh lý của các em. Nhiều gia đình, cha mẹ thiếu sự quan tâm, không chủ đông dạy con kỹ năng tự bảo vệ; có trường hợp các em khi bị xâm hại tình dục đa phần đều có tâm lý sợ hãi, mặc cảm nên không dám chia sẻ và nếu có chia sẻ thì gia đình còn tâm lý e ngại ảnh hưởng đến tương lai của con em mình nên không tố giác kẻ phạm tội.

- Trong nhiều trường hợp khi xảy ra việc trẻ bị xâm hại, gia đình ngại tố cáo tội phạm, cho qua hoặc dấu kín vì sợ tai tiếng, mặc cảm vô tình đã tiếp tay cho kẻ xâm hại tình dục trẻ em thoát tội và tiếp tục phạm tội.

* Thứ hai: Nguyên nhân xã hội.

- Do công tác quản lý các loại hình dịch vụ, băng đĩa hình, văn hóa phẩm đồi trụy thiếu chặt chẽ, nhiều bộ phim, sách truyện có nội dung bạo lực, khiêu dâm vẫn được trình chiếu và bán trên thị trường.

- Về công tác tuyên truyền, vận động người dân, cộng đồng xã hội trong việc bảo vệ, giáo dục trẻ em chưa đạt hiệu quả cao. Việc hướng dẫn những kiến thức, kỹ năng cần thiết để phòng tránh bị xâm hại tình dục cho trẻ em còn nhiều hạn chế.

- Sự phối hợp của các cơ quan ban ngành đoàn thể từ Trung ương đến địa phương còn thiếu thống nhất, thiếu đồng bộ hoặc thiếu kiên quyết.

- Do lối sống buông thả, suy đồi đạo đức có ham muốn dục vọng cá nhân thấp hèn mất nhân tính, những việc làm tiêu cực của người lớn cũng đã ảnh hưởng tới tình trạng phạm tội đối với trẻ em.

- Tình trạng mù chữ, thất học, không có việc làm, không hiểu biết pháp luật, coi thường pháp luật.

* Thứ ba: Nguyên nhân từ đặc điểm tâm sinh lý, thể chất, trình độ nhận thức của trẻ em.

- Do đặc điểm về tâm sinh lý của trẻ em, sự bồng bột thiếu suy nghĩ và sự non nớt về trí tuệ, do sự biến chuyển về sinh lý, làm theo phim ảnh sách báo đồi trụy, dùng chất kích thích của các em là nguyên nhân dẫn đến tình trạng trẻ em bị xâm hại.

- Do đặc điểm về thể chất, các em còn yếu ớt chưa có sự phát triển đầy đủ, chưa có khả năng chống cự lại các hành vi xâm hại của tội phạm.

- Do trình độ nhận thức của các em còn nhiều hạn chế, còn thiếu kiến thức về xã hội và kiến thức về pháp luật, kiến thức về giới tính, người bị hại có nhược điểm về tinh thần cũng là một trong những nguyên nhân và điều kiện cho kẻ phạm tội thực hiện.

* Thứ tư: Nguyên nhân từ công tác tuyên truyền giáo dục ý thức pháp luật, giáo dục giới tính.

- Do công tác tuyên truyền giáo dục về phòng chống xâm hại tình dục trẻ em chưa thường xuyên còn mang tính hình thức chạy theo phong trào, do pháp luật còn nhiều bất cập, việc điều tra xử lý tội phạm xâm hại trẻ em chưa kịp thời, thiếu nghiêm minh chưa tạo được dư luận xã hội lên án mạnh mẽ đối với hành vi xâm hại tình dục trẻ em.

- Công tác tuyên truyền giáo dục pháp luật chưa đi sâu xuống từng địa bàn, từng cụm dân cư nên không đạt hiệu quả trong việc nâng cao nhận thức pháp luật trong nhân dân.

- Về phía chính quyền đã bộc lộ một số sơ hở trong công tác quản lý, đặc biệt là sự kiểm tra, quản lý nhà nghỉ, khách sạn trên địa bàn.

- Do công tác giáo dục đạo đức lối sống cho trẻ chưa được chú trọng, công tác giáo dục giới tính chưa thường xuyên, chưa có phương pháp giáo dục giới tính và hướng dẫn cách phòng ngừa tội phạm cho các em.

- Sự kết hợp quản lý giáo dục giữa gia đình nhà trường và xã hội chưa chặt chẽ, thiếu đồng bộ.

- Một số nhà trọ, nhà nghỉ thiếu sự quản lý chặt chẽ hoặc nhân viên được giao quản lý đã thiếu kiểm tra chặt chẽ, thực hiện chưa đầy đủ thủ tục quy định của pháp luật khi cho thuê phòng trọ, phòng nghỉ nên đã để các đối tượng lợi dụng thực hiện hành vi phạm tội.

2. Những ưu điểm và hạn chế, khó khăn trong công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát việc giải quyết án xâm hại tình dục trẻ em:

2.1. Ưu điểm:

- Tiến hành thường xuyên nắm chắc và rà soát, phân loại các tin báo, tố giác tội phạm xâm hại tình dục trẻ em. Kịp thời báo cáo lãnh đạo, nghiên cứu, xem xét kỹ, có đường lối giải quyết kịp thời, chính xác, đúng pháp luật. Tiến hành kiểm sát kịp thời, toàn diện các khâu tạm giữ, áp dụng biện pháp ngăn chặn và khởi tố vụ án, đảm bảo xử lý đúng pháp luật.

- Chú trọng nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố, kiểm sát các vụ án hình sự liên quan đến các tội xâm hại tình dục trẻ em. Xây dựng đội ngũ cán bộ, Kiểm sát viên trong sạch, vững mạnh; tăng cường đào tạo và đào tạo tại chỗ bồi dưỡng nghiệp vụ cho Kiểm sát viên, thường xuyên mở các lớp tập huấn về hình sự, thông báo rút kinh nghiệm kịp thời về việc điều tra, truy tố và xét xử loại án có liên quan đến loại tội phạm này, nhằm nâng cao trình độ nghiệp vụ cho cán bộ, Kiểm sát viên.

- Phân công các Kiểm sát viên có trình độ, năng lực hiểu biết để tiến hành tố tụng loại án này, nhất là các hiểu biết sâu sắc về tâm lý trẻ em về hoàn cảnh sống của họ, động viên họ. Biết vận dụng hiệu quả cơ chế kết hợp vận động, phòng ngừa cá biệt, tác động trực tiếp đến trẻ em, gia đình, nhà trường và cơ quan. Biết khai thác triệt để biện pháp phòng ngừa xã hội tác động đến tập thể, cộng đồng trẻ em do Công an xã, Ủy ban nhân dân, nhà trường tiến hành theo địa bàn dân cư một cách hiệu quả trong việc phát hiện và xử lý tội phạm.

- Chủ động kết phối hợp chặt chẽ ba ngành Công an - VKS - Tòa án, thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về giải quyết, xử lý án hình sự về xâm phạm tình dục trẻ em; nâng cao chất lượng điều tra; hoàn chỉnh và đầy đủ hồ sơ tố tụng. Đẩy nhanh tiến độ giải quyết án hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử luôn đảm bảo người bị hại là trẻ em có người giám hộ. Với các bị cáo có hành vi xâm hại tình dục trẻ em đều bị Tòa án áp dụng hình phạt nghiêm khắc.

2.2. Hạn chế, vướng mắc, khó khăn:

Thứ nhất, khi xảy ra hành vi xâm hại tình dục đối với trẻ em, để có căn cứ khởi tố, truy tố và xét xử bị cáo về tội danh thì cần phải có kết luận giám định pháp y và những vật chứng có liên quan để làm căn cứ, khẳng định ai là người thực hiện hành vi phạm tội và sẽ bị khởi tố, truy tố, xét xử về tội gì trong các tội xâm hại tình dục phụ nữ và trẻ em (từ Điều 141 đến Điều 146 Bộ luật hình sự). Trên thực tế, có nhiều vụ xâm hại tình dục đối với trẻ em nhưng không đủ cơ sở để đưa người phạm tội ra trước pháp luật. Có nhiều trường hợp trẻ em bị xâm hại tình dục, khi gia đình biết đã lưỡng lự trong cách giải quyết dẫn đến khai báo muộn, không biết cách thu giữ vật chứng cần thiết để giao nộp cho cơ quan chức năng vì vậy, đã tạo điều kiện để người thực hiện hành vi phạm tội có đủ thời gian xóa hết dấu vết.

Bên cạnh đó, Công tác giám định về xâm hại tình dục đối với phụ nữ và trẻ em còn nhiều hạn chế và tại Luật Giám định tư pháp được Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 20/6/2012 và có hiệu lực từ ngày 01/01/2013 đã không quy định việc trưng cầu giám định pháp y về xâm hại tình dục đối với phụ nữ và trẻ em là loại đặc biệt, phải được thực hiện nhanh để xác định thủ phạm, vì vậy đã gây nhiều khó khăn trong quá trình tìm ra chứng cứ. Như vậy, nếu trẻ em bị xâm hại tình dục mà bị phát hiện chậm hoặc đưa đi giám định không kịp thời sẽ thiếu mất bằng chứng quan trọng để xác định người phạm tội cũng như gây khó khăn cho công tác xét xử của các Tòa án.

Thứ hai, khó khăn phát sinh từ phía người bị hại, trong nhiều vụ án mặc dù tại cơ quan điều tra và trong hồ sơ vụ án đã thể hiện quan điểm rõ ràng và khẳng định hành vi của bị cáo đã xâm hại tình dục đối với họ. Nhưng do trong quá trình chờ xét xử, giữa gia đình bị cáo và gia đình người bị hại đã thỏa thuận, thống nhất với nhau và thậm chí do sự tác động nào đó (có thể do bị đe dọa hoặc hứa hẹn) nên tại phiên tòa người bị hại lại thay đổi lời khai, phủ nhận lời khai trước đó và một mực bảo vệ bị cáo, cho rằng bị cáo không thực hiện hành vi xâm hại tình dục đối với họ như trong hồ sơ vụ án đã thể hiện, vì vậy đã gây nhiều khó khăn cho Hội đồng xét xử trong quá trình giải quyết, xét xử vụ án.

Thứ ba, việc tuyên truyền, phổ biến pháp luật là một trong những biện pháp hết sức hữu hiệu để ngăn chặn, phòng ngừa các hành vi vi phạm và các tội phạm xâm hại tình dục trẻ em. Tuy nhiên, các vụ án xâm hại tình dục là các vụ án nhạy cảm (đặc biệt là các vụ án mà người bị hại là trẻ em gái) thì người bị hại thường có tâm lý e ngại, không muốn vụ việc được đưa ra xét xử công khai do vấn đề tâm lý sợ ảnh hưởng đến danh dự, nhân phẩm. Do vậy, các vụ án xâm hại tình dục trẻ em ít được đưa ra xét xử lưu động công khai, trong khi đó có nhiều vụ việc cần được đưa ra xét xử lưu động công khai nhằm tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật và răn đe, ngăn chặn và hạn chế các hành vi vi phạm và tội phạm tương tự xảy ra.

Thứ tư, nhận thức pháp luật của một số người dân, đặc biệt là vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn hạn chế. Nhiều người chưa nhận thức được hành vi họ đã thực hiện là vi phạm pháp luật hoặc danh dự, nhân phẩm của họ đã bị xâm hại, phổ biến nhất là hành vi giao cấu với trẻ em. Việc phát hiện, xử lý hành vi phạm tội chưa triệt để, một số trường hợp hai bên còn che giấu, không hợp tác trong quá trình giải quyết vụ án.

Thứ năm, trong một số vụ án, việc xác định tuổi của người bị hại gặp nhiều khó khăn, các cơ quan tiến hành tố tụng đã áp dụng nhiều biện pháp nhưng không xác định được chính xác tuổi của người bị hại để xác định người bị hại có phải là trẻ em hay không. Có trường hợp bị hại không có giấy khai sinh gốc, hoặc có giấy khai sinh nhưng ngày, tháng, năm sinh không chính xác hoặc giấy khai sinh chỉ ghi năm sinh, đăng ký trễ hạn. Hoặc trong một số trường hợp không xác định được năm sinh của người bị hại, cơ quan tiến hành tố tụng đã làm các thủ tục để tiến hành giám định tuổi của họ nhưng kết quả giám định của các cơ quan chuyên môn lại khác nhau hoặc kết quả giám định lại đưa ra một khoảng thời gian tuổi của bị hại từ thời gian này đến thời gian này, thậm chí mâu thuẫn với tài liệu điều tra khác nên gây khó khăn cho cơ quan tiến hành tố tụng, trong đó có Tòa án trong việc đánh giá, sử dụng tài liệu chứng cứ.

2.3. Các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử sơ thẩm các vụ án xâm hại tình dục trẻ em:

- Khi thụ lý, kiểm sát tố giác, tin báo tội phạm về các tội xâm hại tình dục trẻ em cần chú trọng kiểm sát chặt độ tuổi người bị hại và đối tượng phạm tội, nếu chưa rõ thì phải trưng cầu giám định độ tuổi trước khi khởi tố. Trường hợp người bị hại làm khai sinh trễ  hạn không có giấy chứng sinh, chưa rõ ngày tháng năm sinh nhưng tự nguyện giao cấu, bị hại dưới 13 tuổi hoặc gần đủ 16 tuổi cần làm rõ độ tuổi trước khi khởi tố (thu thập khai sinh, hộ khẩu, giấy chứng sinh, học bạ, các tài liệu khác….). Trong trường hợp không có căn cứ để xác định tuổi của đối tượng, bị hại thì nhất định phải tiến hành giám định độ tuổi để làm căn cứ định tội đúng quy định của pháp luật. Không để xảy ra trường hợp khởi tố sau đó phải đình chỉ điều tra vì lý do kết quả giám định thì hành vi không cấu thành tội phạm.

- Khi tiếp nhận tin báo, tố giác, Kiểm sát viên cần phối hợp cùng Cơ quan điều tra tiến hành khám nghiệm hiện trường ngay (nếu có), xác minh, thu thập chứng cứ trước khi xem xét khởi tố.

- Khi tham gia khám nghiệm hiện trường cần kiểm sát chặt chẽ, thu lượm những dấu vết sinh học (lông, tóc, tinh dịch của đối tượng phạm tội và người bị hại), quần áo và đồ vật có liên quan của các bên, tránh trường hợp bỏ sót nguồn chứng cứ vật chất tại hiện trường. Kiểm sát quyết định trưng cầu giám định pháp y về tình dục của người bị hại, kết quả xem xét quần áo, dấu vết trên thân thể của đối tượng phạm tội và của người bị hại.

- Không dùng lời nhận tội của bị can, bị cáo làm chứng cứ duy nhất để kết tội. Chú ý những mâu thuẫn trong lời khai của các đối tượng phạm tội với người bị hại, người làm chứng về số lần phạm tội, thời gian, địa điểm, đặc điểm quần áo của đối tượng và người bị hại mặc, tư thế giao cấu, các hành vi trước, trong và sau giao cấu, vị trí và đồ vật xung quanh nơi giao cấu…..

- Khi tiến hành ghi lời khai đối tượng phạm tội, người bị hại là trẻ em, người chưa thành niên cần có luật sư bảo vệ quyền lợi, người giám hộ theo luật định. Cần có ghi âm, ghi hình khi lấy lời khai của họ trước khi khởi tố nhằm đảm bảo tính khách quan trong việc lấy lời khai, tránh trường hợp bị can, bị cáo sau này phản cung, chối tội, khiếu nại lý do bức cung, mớm cung, dùng nhục hình. Viện kiểm sát trực tiếp lấy lời khai người bị tạm giữ, bị hại, nhân chứng hoặc tham gia cùng Cơ quan điều tra ngay từ đầu.

Trường hợp người bị hại bị khuyết tật bẩm sinh, hoặc người dân tộc… cần nhanh chóng trưng cầu người phiên dịch, nếu có biểu hiện tâm thần phải giám định về năng lực hành vi của họ để ra quyết định chính xác.

- Trường hợp vụ án còn nhiều quan điểm khác nhau về thẩm quyền, tội danh thì cần trực tiếp báo cáo, xin ý kiến chỉ đạo Viện kiểm sát cấp trên (hoặc liên ngành cấp trên). Nếu phát hiện vụ án thuộc thẩm quyền của các cơ quan tiến hành tố tụng cấp trên thì Kiểm sát viên được phân công thụ lý phải tác động, yêu cầu cơ quan điều tra đang thụ lý nhanh chóng ra quyết định chuyển vụ án ngay sau khi khởi tố đến Cơ quan điều tra cấp trên để tiến hành điều tra theo thẩm quyền.

- Trước khi phê chuẩn bắt khẩn cấp các trường hợp về các tội xâm hại tình dục trẻ em, Kiểm sát viên phải trực tiếp gặp đối tượng bị bắt để ghi lời khai. Lấy lời khai bị hại để xem xét thái độ khai báo cũng như phản ứng của họ đối với vụ việc. Nội dung lấy lời khai liên quan đến sự việc phạm tội phải cụ thể, chi tiết, tránh trường hợp hỏi chung chung, sau này không thể làm nguồn chứng cứ buộc tội.

 - Xây dựng cơ chế nâng cao trách nhiệm, trình độ của đội ngũ cán bộ Kiểm sát viên thông qua các lớp tập huấn, đào đạo - bồi dưỡng chuyên môn. Bảo đảm để đội ngũ cán bộ, Kiểm sát viên luôn được đào tạo, trau dồi kiến thức, nâng cao trình độ, yên tâm công tác, phát huy tinh thần công tâm, trách nhiệm và tinh thần bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa. Ban hành qui chế phối hợp, tổ chức họp rút kinh nghiệm về kỹ năng chuyên môn giữa các cơ quan tiến hành tố tụng trong việc giải quyết các vụ án về hiếp dâm trẻ em. Thường xuyên tổng kết, đánh giá việc áp dụng pháp luật trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử các vụ án hiếp dâm trẻ em, thông qua các Hội nghị chuyên đề, tham luận nghiên cứu khoa học, từ đó có ý kiến, kiến nghị với các cơ quan hữu quan khác quy định bổ sung, sửa đổi những quy định trong luật hình sự nhằm đáp ứng nhu cầu thực tiễn hiện nay.

- Chủ động tham mưu cấp ủy, chính quyền địa phương tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến và giáo dục nâng cao nhận thức và ý thức chấp hành pháp luật trong nhân dân và phòng, chống xâm hại tình dục trẻ em. 

- Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, đấu tranh phòng ngừa các loại tội phạm về tình dục trẻ em, thực hiện chuyên đề đấu tranh với tội phạm xâm hại tình dục trẻ em. Chấn chỉnh, nâng cao hiệu quả công tác tiếp nhận, xử lý tin báo tố giác tội phạm về bạo lực, xâm hại tình dục trẻ em. Thiết lập đường dây nóng, điện thoại, email, hộp thư tố giác tội phạm tại nơi công cộng, nơi có nguy cơ xảy ra các vụ án, vụ việc xâm hại tình dục trẻ em, tăng cường vận động quần chúng nhân dân kịp thời tố giác tội phạm. Phối hợp chặt chẽ với Công an, Tòa án để điều tra, xét xử các vụ án xâm hại tình dục trẻ em để nâng cao tính răn đe và phòng ngừa tội phạm.

NT107052019.jpg
                 Một bị cáo phạm tội xâm hại tình dục đối với trẻ em bị đưa ra xét xử


                           Nguyễn Hồng Sơn – VKSND huyện Nhơn Trạch
Các tin đã đăng ngày
Select a date from the calendar.
 
 

 Video

 
Thư viện video
 

 Thư viện ảnh

 
ĐĂNG NHẬP