Trang chủ : Nội dung tin Home
Tìm kiếm
 

 Góp ý

 

Mọi thông tin góp ý xin vui lòng liên hệ qua email:
Thanhnguyen99ct2@gmail.com

 

 Tin tức ngành

 
NHIỆM VỤ CỦA KIỂM SÁT VIÊN KHI THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ VÀ KIỂM SÁT XÉT XỬ SƠ THẨM ÁN HÌNH SỰ Cập nhật: 09-02-2018 02:06
Căn cứ các bộ luật và văn bản pháp lý hiện hành có liên quan đến công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử sơ thẩm án hình sự thì các Kiểm sát viên cần phải phát huy trách nhiệm, bản lĩnh bằng việc thực hiện các giải pháp và nhiệm vụ như sau:

1. Khi chuẩn bị xét xử sơ thấm

            Kiểm sát viên (KSV) phải kiểm sát chặt chẽ việc chuẩn bị xét xử của Tòa án (TA), trong đó quan trọng nhất là kiểm sát việc Tòa án chấp hành thời hạn chuẩn bị xét xử và việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế đối với bị cáo. Thời hạn chuẩn bị xét xử vụ án hình sự là thời điểm tính từ khi TA nhận được hồ sơ vụ án cùng bản cáo trạng (hoặc quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn) do VKS chuyển đến và TA án thụ lý để xét xử (theo quy định tại Điều 277 BLTTHS năm 2015 (Điều 277) thì thời hạn chuẩn bị xét xử của TA được quy định theo loại tội phạm: 30 ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng, 45 ngày đối với tội phạm nghiêm trọng, 02 tháng đối với tội phạm rất nghiêm trọng...Thẩm phán chủ tọa phiên tòa phải ra một trong các quyết định: Đưa vụ án ra xét xử (khoản 1 Điều 255); trả hồ sơ để yêu cầu điều tra bổ sung (khoản 1, 3 Điều 280); tạm đình chỉ vụ án hoặc đình chỉ vụ án (Điều 281, Điều 282). Chánh án TA có thể quyết định gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử đối với vụ án phức tạp, nhưng cũng không quá 15 ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng và tội phạm nghiêm trọng, không quá 30 ngày đối với tội phạm rất nghiêm trọng). Đối với các vụ án mà VKS quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn thì thời hạn chuẩn bị xét xử của TA chỉ là 10 ngày kể từ ngày thụ lý vụ án, Thẩm phán được phân công xét xử phải ra quyết định đưa vụ án ra xét xử; trường hợp không có căn cứ để ra quyết định đưa vụ án ra xét xử thì phải ra quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung hoặc quyết định tạm đình chỉ hoặc quyết định đình chỉ vụ án và đồng thời phải ra quyết định hủy bỏ quyết định áp dụng thủ tục rút gọn (Điều 458, 462). Như vậy, KSV phải rà soát các mốc thời gian để kiểm tra xem liệu TA ra các quyết định có trong thời hạn hay không, các quyết định có đúng căn cứ và phù hợp với tính chất của vụ án hay không.

        Cùng với kiểm sát thời hạn chuẩn bị xét xử và các quyết định của TA, Kiểm sát viên phải kiểm sát chặt chẽ việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế của TA. Theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 279 thì bị cáo hoặc người đại diện của bị cáo, người bào chữa được đề nghị về việc thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế. Đây là quy định mới nên KSV phải kiểm tra xem bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế nào; thời gian bị cáo đã chấp hành biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế ra sao, đề nghị thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế của bị cáo hoặc người đại diện của bị cáo, người bào chữa có căn cứ không? Việc TA quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế có đúng quy định tại các điều 119, 121, 122, 123, 124, 127, 128, 129 hay không, trong đó chú ý đối với các trường hợp bị cáo đang bị áp dụng biện pháp tạm giam thì thời hạn tạm giam để chuẩn bị xét xử không được quá thời hạn chuẩn bị xét xử (khoản 1 Điều 277, khoản 2 Điều 278). Trước khi mở phiên tòa, KSV có quyền đưa ra các yêu cầu đề nghị như: Yêu cầu cung cấp, bổ sung chứng cứ; yêu cầu triệu tập người làm chứng, những người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng khác đến phiên tòa; yêu cầu thay đổi thành viên Hội đồng xét xử, Thư ký TA (nếu thấy vi phạm quy định tại Điều 53, Điều 54); đề nghị xét xử theo thủ tục rút gọn, xét xử công khai hoặc xét xử kín. Thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa có trách nhiệm giải quyết hoặc thông báo cho người có thẩm quyền giải quyết các yêu cầu, đề nghị của KSV, nếu không chấp nhận thì phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do (Điều 279).

          Đối với việc trả hồ sơ để điều tra bổ sung, có một số quy định mới liên quan đến trách nhiệm, quyền hạn của VKSND, cụ thể là: Trường hợp VKS phát hiện có căn cứ trả hồ sơ để điều tra bổ sung thì VKS có văn bản đề nghị TA trả hồ sơ; nếu kết quả điều tra bổ sung dẫn tới phải thay đổi quyết định truy tố thì VKS ban hành bản cáo trạng mới thay thế bản cáo trạng trước đó (Điều 179); nếu TA yêu cầu VKS bổ sung chứng cứ, tài liệu mà không cần thiết phải trả lại hồ sơ thì trong thời hạn 5 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu của TA, Viện kiểm sát phải gửi cho TA tài liệu, chứng cứ được yêu cầu bổ sung. Quy định mới này đảm bảo được thời hạn bổ sung chứng cứ, tài liệu, đồng thời đảm bảo được sự linh hoạt trong thực tiễn, rút gọn được một số thủ tục rườm rà, không cần thiết. Cũng trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, VKS có thể rút quyết định truy tố trước khi mở phiên tòa và đề nghị TA đình chỉ vụ án khi xét thấy có một trong các căn cứ quy đinh tại Điều 157 hoặc có căn cứ quy định tại Điều 16 hoặc Điều 29 hoặc khoản 2 Điều 91 của BLHS (Điều 285 của BLTTHS).

2. Tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự

           Tham gia phiên tòa xét xử vụ án hình sự là giai đoạn quan trọng nhất để KSV thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử không chỉ với tư cách là người đại diện Nhà nước thực hành quyền công tố bảo vệ quan điểm truy tố (buộc tội) tại bản cáo trạng hoặc quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn, KSV còn phải thực hiện nhiệm vụ kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động xét xử của Tòa án và của những người tham gia tố tụng tại phiên tòa. Để thực hiện tốt vai trò đó, KSV phải nắm chắc và thực hiện đầy đủ nhiệm vụ, quyền hạn của VKS theo quy định của pháp luật như:

         Sau khi khai mạc phiên tòa, KSV phải kiểm sát tính hợp pháp và sự có mặt, vắng mặt của thành viên của Hội đồng xét xử nhằm đảm bảo đúng quy định chung tại khoản 1 Điều 254, khoản 1 Điều 423 (trường hợp bị cáo là người dưới 18 tuổi) và khoản 1 Điều 463 (trường hợp vụ án được xét xử theo thủ tục rút gọn); đồng thời kiểm sát về sự có mặt, vắng mặt của những người được triệu tập đến phiên tòa, trên cơ sở đó để thực hiện quyền đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử hoặc hoãn phiên tòa theo đúng quy định tại Điều 297. Kiểm sát viên phải kiểm sát việc chủ tọa phiên tòa kiểm tra căn cước của những người có mặt tại phiên tòa, giải thích quyền, nghĩa vụ của những người tham gia phiên tòa và kiểm sát việc chủ tọa phiên tòa giải quyết các vấn đề như: Việc đề nghị thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm, KSV, Thư ký TA, người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật (Điều 302); giải quyết yêu cầu về xem xét chứng cứ và hoãn phiên tòa khi có người vắng mặt (Điều 305), đồng thời thực hiện quyền đề nghị Hội đồng xét xử tạm ngừng phiên tòa nếu thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều 251. Mở đầu phần xét hỏi tại phiên tòa, thực hiện vai trò buộc tội đối với bị cáo thì KSV tiến hành công bố nội dung cáo trạng hoặc quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn và trình bày ý kiến bổ sung (nếu có). Ý kiến bổ sung không được làm xấu đi tình trạng của bị cáo (Điều 306), nghĩa là nội dung ý kiến đó không được làm bất lợi cho bị cáo, mà đó chỉ là những ý kiến có lợi cho bị cáo so với nội dung bản cáo trạng mà bị cáo đã được nhận trong giai đoạn truy tố. BLTTHS năm 2015 quy định “chủ tọa phiên tòa điều hành việc hỏi, quyết định người hỏi trước, hỏi sau theo thứ tự hợp lý” (khoản 1 Điều 307) là một thách thức vì KSV không còn được giữ thế chủ động xét hỏi (sau Chủ tọa và Hội thẩm như trước kia) mà phải tuân theo sự điều hành của chủ tọa. Vì vậy, để không bị động, trước khi tham gia phiên tòa, KSV phải chuẩn bị đề cương và những nội dung cần làm sáng tỏ, dự kiến các tình huống có thể phát sinh tại phiên tòa, các mâu thuẫn trong hồ sơ và tại phiên tòa để tham gia xét hỏi; KSV phải đặt câu hỏi khách quan, rõ ràng, dễ hiểu, tránh giải thích, kết luận ngay, đồng thời phải có phương pháp xét hỏi thật hợp lý để giải quyết các mâu thuẫn, bác bỏ những lời chối tội không có cơ sở và làm sáng tỏ vấn đề mà người bào chữa đặt ra. Trong quá trình Hội đồng xét xử tiến hành xét hỏi bị cáo, bị hại, người làm chứng thì KSV phải tích cực đề nghị tham gia xét hỏi khi thấy cần thiết, tránh tình trạng quá lệ thuộc vào sự điều hành của chủ tọa, không thể hiện được vị thế của KSV trong quá trình tranh tụng.

           Trên cơ sở cân nhắc kỹ việc có cần phải công bố lời khai trong giai đoạn điều tra, truy tố của những người vắng mặt tại phiên tòa hoặc trong trường hợp quy định tại Điều 308 hay không? có cần phải xem xét tại chỗ vật chứng; nghe, xem nội dung ghi âm, ghi hình để kiểm tra chứng cứ không? (các Điều 309 đến 316), KSV thực hiện việc xét hỏi đối với những người tham gia tố tụng, xem xét vật chứng, xem xét tại chỗ. Thông qua kết quả xét hỏi, tùy trường hợp mà  KSV rút một phần hoặc toàn bộ quyết định truy tố hoặc kết luận về tội nhẹ hơn (Điều 319). Trong phần tranh luận tại phiên tòa, KSV viên trình bày quan điểm luận tội của VKS; Luận tội phải căn cứ vào những chứng cứ, tài liệu, đồ vật đã được kiểm tra tại phiên tòa và ý kiến của bị cáo, người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự, người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa. Nội dung luận tội phải phân tích, đánh giá khách quan, toàn diện, đầy đủ những chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định vô tội; tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội; hậu quả do hành vi phạm tội gây ra; nhân thân và vai trò của bị cáo trong vụ án; tội danh, hình phạt, áp dụng điểm, khoản, điều của BLHS, những tình tiết tăng nặng, gỉảm nhẹ trách nhiệm hình sự; mức bồi thường thiệt hại, xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp, nguyên nhân, điều kiện phạm tội và những tình tiết khác có ý nghĩa đối với vụ án. Đề nghị kết tội bị cáo theo toàn bộ hay một phần nội dung bản cáo trạng hoặc kết luận về tội nhẹ hơn; đề nghị mức hình phạt chính, hình phạt bổ sung, biện pháp tư pháp, trách nhiệm bồi thường thiệt hại, xử lý vật chứng. Trường hợp phát hiện các cơ quan, tổ chức có vi phạm, sơ hở thiếu sót thì thông qua hoạt động thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử phải kiến nghị các biện pháp phòng ngừa tội phạm và vi phạm pháp luật (Điều 321).

         Việc tranh luận tại phiên tòa là bắt buộc, KSV phải đưa ra chứng cứ, tài liệu và lập luận để đối đáp đến cùng từng ý kiến của bị cáo, người bào chữa, người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa” (Điều 322) nên KSV phải ghi chép nhanh các ý kiến tranh luận từ phía các bị cáo, người bào chữa để thực hiện việc tranh tụng. Qua tranh luận mà thấy còn có tình tiết vụ án chưa được hỏi, chưa được làm sáng tỏ thì KSV đề nghị Hội đồng xét xử trở lại phần xét hỏi (Điều 323). Kết thúc phần tranh luận, Hội đồng xét xử nghị án và sau đó là tuyên án, KSV phải chú ý ghi lại những nhận định quan trọng và nội dung quyết định của bản án sơ thẩm (có thể ghi âm) để làm căn cứ kiểm tra biên bản phiên tòa, bản án sơ thẩm, đồng thời chuẩn bị nội dung báo cáo lãnh đạo Viện kiến nghị, kháng nghị nếu cần thiết (Điều 327).

3. Sau phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự

              Ngay sau khi kết thúc phiên tòa, KSV phải kiểm tra biên bản phiên tòa; kiểm sát bản án của TA, việc sửa chữa, bổ sung bản án; kiểm sát việc TA chấp hành thời hạn giao, gửi bản án. Nếu phát hiện bản án sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật của TA có vi phạm pháp luật, KSV phải báo cáo ngay với lãnh đạo VKS đơn vị mình để kháng nghị; kiến nghị TA khắc phục vi phạm trong hoạt động tố tụng; kiến nghị cơ quan, tổ chức hữu quan áp dụng biện pháp phòng ngừa tội phạm và vi phạm pháp luật trong hoạt động quản lý (Điều 258, 260, 261, 262, 267). Trường hợp thời hạn kháng nghị của VKS cùng cấp đã hết thì báo cáo VKS tỉnh để kháng nghị trong thời hạn theo quy định tại Điều 337.

            Để đảm bảo nguyên tắc cơ bản của BLTTHS về chế độ xét xử hai cấp (sơ thẩm, phúc thẩm) theo quy định tại Điều 27 cũng như quy định về quyền giám sát trong tố tụng hình sự, tại Điều 262 quy định trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày tuyên án, Tòa án cấp sơ thẩm phải gửi Bản án cho VKS cùng cấp và VKS tỉnh và tại Điều 286 quy định trong thời hạn 2 ngày kể từ ngày ra quyết định đình chỉ, quyết định tạm đình chỉ vụ án, Tòa án phải gửi cho VKS cùng cấp và VKS tỉnh nên cần phải được lưu ý kiểm sát. Ngoài ra các KSV còn phải nghiên cứu kỹ hồ sơ vụ án, lập hồ sơ kiểm sát theo đúng quy định tại Điều 5 (Phần thứ hai) Quyết định số 590/VKSTC ngày 5/12/2014 của Viện trưởng VKSND tối cao ban hành quy định về lập hồ sơ kiểm sát án hình sự; trích cứu đầy đủ các chứng cứ, tình tiết của vụ án; có báo cáo tổng hợp đề xuất quan điểm, chuẩn bị dự thảo đề cương xét hỏi, dự thảo luận tội và dự kiến nội dung đối đáp, tranh luận tại phiên tòa. Đối với những vụ án có tính chất phức tạp, dư luận xã hội quan tâm thì Viện trưởng, Phó Viện trưởng VKS huyện phải trực tiếp thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử.

           Đối với các trường hợp Tòa án tuyên bị cáo không phạm tội, KSV tham gia phiên tòa phải làm báo cáo nêu rõ quan điểm gửi Lãnh đạo Viện chỉ đạo và báo cáo VKS tỉnh; nếu Tòa án tuyên không phạm tội không có căn cứ thì  đề xuất kháng nghị phúc thẩm, còn tuyên không phạm tội có căn cứ thì Lãnh đạo Viện thực hiện việc xem xét xử lý trách nhiệm theo quy định, phối hợp với Phòng 7 thực hiện việc bồi thường theo pháp luật./.

 

                                      Dương Văn Tín - TP7
Các tin đã đăng ngày
Select a date from the calendar.
 
 

 Video

 
Thư viện video
 

 Thư viện ảnh

 
ĐĂNG NHẬP