Trang chủ : Nội dung tin Home
Tìm kiếm
 

 Góp ý

 

Mọi thông tin góp ý xin vui lòng liên hệ qua email:
Thanhnguyen99ct2@gmail.com

 

 Tin tức ngành

 
Bàn về vấn đề lý luận biện pháp ngăn chặn tạm giam trong bộ luật tố tung hình sự năm 2015 Cập nhật: 24-11-2017 09:19
Tố tụng hình sự là luật hình thức quy định trình tự, thủ tục giải quyết vụ án hình sự khi có hành vi phạm tội được quy định trong Bộ luật hình sự xảy ra. Pháp luật tố tụng hình sự nhằm chủ động phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm, phát hiện chính xác, nhanh chóng và xử lý nghiêm minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội. Điều 109 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định các biện pháp và căn cứ áp dụng biện pháp ngăn chặn như sau:

“1. Để kịp thời ngăn chặn tội phạm hoặc khi có căn cứ chứng tỏ người bị buộc tội sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc sẽ tiếp tục phạm tội hoặc để bảo đảm thi hành án, cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong phạm vi thẩm quyền của mình có thể áp dụng biện pháp biện pháp giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bắt, tạm giữ, tạm giam, bảo lĩnh, đạt tiền để bảo đảm, cấm đi khỏi nơi cư trú, tạm hoãn xuất cảnh”.  

    Các biện pháp ngăn chặn quy định tại Điều 109 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 có những thay đổi so với Điều 79 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003. Cụ thể đối tượng bị áp dụng đã được mở rộng bằng khái niệm “người bị buộc tội” bao gồm người bị bắt, bị tạm giữ, bị can, bị cáo (điểm đ, khoản 1 Điều 4 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015). Ngoài biện pháp “giữ người trong trường hợp khẩn cấp” được thay cho biện pháp “bắt người trong trường hợp khẩn cấp” và bổ sung biện pháp mới là “tạm hoãn xuất cảnh” thì các trường hợp bắt người có sự thay đổi là “bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp” thay cho “bắt người trong trường hợp khẩn cấp” (Điều 81 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003) và bổ sung trường hợp mới là “bắt người trong trường hợp bị dẫn độ”. Những thay đổi trên đã khắc phục được một số hạn chế của Điều 79 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 và bất cập trong thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử các vụ án hình sự (về tạm hoãn xuất cảnh và bắt người bị yêu cầu dẫn độ).

    Các biện pháp ngăn chặn trên là những biện pháp cưỡng chế Nhà nước cho phép các cơ quan tiến hành tố tụng như Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án áp dụng hạn chế một số quyền cụ thể của cá nhân khi họ thực hiện tội phạm nhằm thực hiện nhiệm vụ và mục đích của tố tụng hình sự là hoàn toàn phù hợp với quy luật khách quan, cân bằng giữa lợi ích của cá nhân với lợi ích của Nhà nước, xã hội. Trong các biện pháp ngăn chặn quy định tại Điều 109 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 thì biện pháp ngăn chặn tạm giam là biện pháp nghiêm khắc nhất. Do vậy đòi hỏi khách quan luật phải quy định hết sức cụ thể và rõ ràng căn cứ áp dụng nhằm hạn chế hiện tượng biến tướng, lạm dụng dùng biện pháp ngăn chặn này thay thế cho biện pháp ngăn chặn khác. Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 và cả Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 không định nghĩa biện pháp ngăn chặn tạm giam là gì, tuy nhiên theo chúng tôi có thể định nghĩa biện pháp ngăn chặn tạm giam như sau: “Tạm giam là biện pháp ngăn chặn quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự được Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án áp dung đối với người thực hiện tội phạm được quy định trong Bộ luật hình sự và đã bị khởi tố hình sự về tội phạm đó nhằm ngăn chặn tội phạm, ngăn chặn bỏ trốn,tiếp tục phạm tội hoặc cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự”. Người thực hiện tội phạm và đã bị khởi tố hình sự là bị can, bị cáo (Điều 60, 61 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Chủ thể áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam là Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án; đây là những cơ quan được BLTTHS quy định có chức năng, nhiệm vụ tiến hành các hoạt động tố tụng khi giải quyết vụ án hình sự. Khi áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam sẽ đụng chạm và hạn chế các quyền Hiến định của công dân nên tạm giam là biện pháp ngăn chặn có tính nghiêm khắc nhất so với các biện pháp ngăn chặn khác được áp dụng đối với bị can, bị cáo trước khi họ bị Tòa án xét xử để khẳng định họ có tội hay không có tội bằng một bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật. Chính vì lý do này nên xu hướng chung của pháp luật tố tụng hình sự là hạn chế việc áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam và quy định chặt chẽ về các vấn đề liên quan đến tạm giam.

    Biện pháp ngăn chặn tạm giam nói riêng và các biện pháp ngăn chặn khác nói chung đều có hai mặt. Người có thẩm quyền nếu xem xét tổng thể, khách quan các vấn đề một cách đúng đắn mới ra quyết định áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam thì hiệu quả đem lại khi giải quyết vụ án là rất lớn vừa tạo điều kiện thuận lợi tìm ra sự thật khách quan làm sáng tỏ vụ án hình sự một cách nhanh chóng, đồng thời sẽ kịp thời ngăn chặn được tội phạm xảy ra, đang thực hiện, đang diễn ra hoặc có hành vi tiếp tục phạm tội góp phần vào công cuộc bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa. Ngược lại nếu người có thẩm quyền do duy ý chí, chủ quan, tùy tiện trong việc áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam thì hậu quả sẽ khôn lường, dễ dẫn đến oan, sai làm ảnh hưởng lớn đến niềm tin của nhân dân đối với Nhà nước, pháp chế xã hội chủ nghĩa mà Đảng, Nhà nước ta xây dựng.

    Như chúng tôi đã nói ở phần trên tạm giam là biện pháp ngăn chặn có tính nghiêm khắc nhất so với các biện pháp ngăn chặn khác và đây là một trong những biện pháp cưỡng chế Nhà nước nên xu hướng chung của pháp luật tố tụng hình sự là hạn chế việc áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam và quy định chặt chẽ về các vấn đề liên quan đến tạm giam, vì vậy căn cứ để áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam cũng được quy định rất chặt chẽ và chỉ được áp dụng biện pháp ngăn chặn khi có các căn cứ sau đây:

     - Để kịp thời ngăn chặn tội phạm. Tội phạm luôn xâm phạm vào những khách thể cụ thể được pháp luật hình sự bảo vệ. Khi áp dụng biện pháp ngăn chặn không những phục vụ cho hoạt động tố tụng hình sự mà còn bảo vệ lợi ích hợp pháp cho nhân dân, Nhà nước, xã hội. Bên cạnh đó khi có đủ cơ sở cho rằng một người đã hoặc đang thực hiện tội phạm, đang chuẩn bị thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng thì pháp luật tố tụng hình sự cho phép có thể áp dụng biện pháp ngăn chặn và thường là phạm tội quả tang hoặc trong trường hợp khẩn cấp (khoản 1 Điều 111; điểm a, khoản 1 Điều 110 Bộ luật tố tụng hình sự).

     - Khi có căn cứ chứng tỏ người bị buộc tội sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử như bỏ trốn, tiêu hủy chứng cứ, thông cung…của những người đã bị khởi tố về hình sự.

     - Khi có căn cứ chứng tỏ người bị buộc tội sẽ tiếp tục phạm tội. Đây là trường hợp người bị buộc tội đã thực hiện ít nhất một tội phạm nhưng có căn cứ cho rằng họ có thể tiếp tục phạm tội. Vì vậy việc áp dụng biện pháp ngăn chặn để cách ly họ ra khỏi đời sống xã hội một thời gian hoặc hạn chế điều kiện cản trở việc thực hiện tội phạm là rất quan trọng. Khi áp dụng căn cứ chứng tỏ người bị buộc tội sẽ tiếp tục phạm tội phải đánh giá một cách tổng hợp dựa vào những dấu hiệu như nhân thân người phạm tội, có khả năng thực hiện đe dọa bị hại, người làm chứng hoặc đang chuẩn bị sửa soạn công cụ, phương tiện phạm tội…

    - Để bảo đảm cho việc thi hành án. Người bị áp dụng biện pháp ngăn chặn trong trường hợp này là người đã bị Tòa án tuyên có tội và quyết định một hình phạt cụ thể nhưng bản án chưa có hiệu lực pháp luật. Nếu xét thấy nếu không áp dụng biện pháp ngặn chặn đối với họ thì có thể họ bỏ trốn hoặc có hành vi gây cản trở không đảm bảo cho hoạt động thi hành án.

    Việc áp dụng biện pháp ngăn chặn nhằm tạo điều kiện cho hoạt động điều tra, truy tố, xét xử của các cơ quan tiến hành tố tụng được diễn ra bình thường, đúng pháp luật. Tuy nhiên theo chúng tôi tại Điều 109 Bộ luật tố tụng hình sự chỉ nêu đối tượng bị áp dụng biện pháp ngăn chặn là “người bị buộc tội” là chưa đầy đủ vì còn có những trường hợp “người bị tình nghi phạm tội nhưng chưa bị khởi tố về hình sự” cũng có thể gây khó khăn cho hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng nên theo quan điểm của chúng tôi các cơ quan có thẩm quyền cần sớm nghiên cứu sửa Điều 109 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 theo hướng đưa thêm “người bị tình nghi phạm tội nhưng chưa bị khởi tố về hình sự” có thể bị áp dụng biện pháp ngăn chặn. Bên cạnh các căn cứ áp dụng biện pháp ngăn chặn nói chung quy định tại Điều 109 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 thì Điều 119 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định cụ thể các trường hợp áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam tại khoản 1, 2, 3, 4 như sau:

    “1. Tạm giam có thể áp dụng đối với bị can, bị cáo về tội đặc biệt nghiêm trọng, tội rất nghiêm trọng.

    2. Tạm giam có thể áp dụng đối với bị can, bị cáo về tội nghiêm trọng, tội ít nghiêm trọng mà Bộ luật hình sự quy định hình phạt tù trên 02 năm khi có căn cứ xác định người đó thuộc một trong các trường hợp:

    a) Đã bị áp dụng biện pháp ngăn chặn khác nhưng vi phạm;

    b) Không có nơi cư trú rõ ràng hoặc không xác định được lý lịch của bị can;
    c) Bỏ trốn và bị bắt theo quyết định truy nã hoặc có dấu hiệu bỏ trốn;

     d) Tiếp tục phạm tội hoặc có dấu hiệu tiếp tục phạm tội;

    đ) Có hành vi mua chuộc, cưỡng ép, xúi giục người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật; tiêu hủy, giả mạo chứng cứ, tài liệu, đồ vật của vụ án, tẩu tán tài sản liên quan đến vụ án; đe dọa, khống chế, trả thù người làm chứng, bị hại, người tố giác tội phạm và người thân thích của những người này.

    3. Tạm giam có thể áp dụng đối với bị can, bị cáo về tội ít nghiêm trọng mà Bộ luật hình sự quy định hình phạt tù đến 02 năm nếu họ tiếp tục phạm tội hoặc bỏ trốn và bị bắt theo quyết định truy nã.

    4. Đối với bị can, bị cáo là phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi, là người già yếu, người bị bệnh nặng mà có nơi cư trú và lý lịch rõ ràng thì không tạm giam mà áp dụng biện pháp ngăn chặn khác, trừ các trường hợp:

    a) Bỏ trốn và bị bắt theo quyết định truy nã;

    b) Tiếp tục phạm tội;

    c) Có hành vi mua chuộc, cưỡng ép, xúi giục người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật; tiêu hủy, giả mạo chứng cứ, tài liệu, đồ vật của vụ án, tẩu tán tài sản liên quan đến vụ án; đe dọa, khống chế, trả thù người làm chứng, bị hại, người tố giác tội phạm hoặc người thân thích của những người này;

    d) Bị can, bị cáo về tội xâm phạm an ninh quốc gia và có đủ căn cứ xác định nếu không tạm giam đối với họ thì sẽ gây nguy hại đến an ninh quốc gia”.

    Căn cứ Điều luật trên thì việc áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam chỉ được áp dụng khi thỏa mãn một trong bốn trường hợp sau đây:

    - Trường hợp 1: Biện pháp ngăn chặn tạm giam có thể được áp dụng đối với bị can, bị cáo về tội đặc biệt nghiêm trọng, tội rất nghiêm trọng (khoản 1 Điều 119 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015). Bị can là người hoặc pháp nhân bị khởi tố về hình sự (khoản 1 Điều 60 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015); bị cáo là người hoặc pháp nhân đã bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử (khoản 1 Điều 61 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015). Tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng được quy định tại khoản 3 Điều 8 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 hoặc tại các điểm c, d khoản 1 Điều 9 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 (Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 có hiệu lực từ ngày 01/01/2018). Đây là trường hợp xác định khi một người có hành vi gây nguy hại lớn hoặc đặc biệt lớn cho xã hội thì có thể áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam đối với họ mà không cần phải xem xét đến các yếu tố khác như có hành vi cản trở hoạt động điều tra, truy tố, xét xử…

     - Trường hợp thứ 2: Biện pháp ngăn chặn tạm giam có thể được áp dụng đối với bị can, bị cáo phạm tội nghiêm trọng, phạm tội ít nghiêm trọng mà Bộ luật hình sự quy định hình phạt tù trên 02 năm và có căn cứ xác định người đó thuộc một trong các trường hợp quy định từ điểm a đến điểm đ khoản 2 Điều 119 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Tội phạm ít nghiêm trọng; tội phạm nghiêm trọng là tội phạm được quy định tại khoản 3 Điều 8 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 hoặc tại các điểm a, b khoản 1 Điều 9 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017). Do tính chất, mức độ của tội phạm trong trường hợp này xâm hại đến xã hội là không lớn nên việc áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam cần xem xét thêm đến một số yếu tố như khung hình phạt tối đa và có căn cứ xác định người đó thuộc một trong các trường hợp quy định từ điểm a đến điểm đ khoản 2 Điều 119 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Đây là hai điều kiện cần và đủ và chỉ có thể áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam khi có đủ cả hai điều kiện trên.

     - Trường hợp thứ 3: Biện pháp ngăn chặn tạm giam có thể được áp dụng đối với bị can, bị cáo về tội ít nghiêm trọng mà Bộ luật hình sự quy định hình phạt tù đến 02 năm nếu họ tiếp tục phạm tội hoặc bỏ trốn và bị bắt theo quyết định truy nã. Đây là điểm mới bổ sung so với Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 nhằm tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn. Theo đó chỉ có thể áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam trong trường hợp này nếu bị can, bị cáo tiếp tục phạm tội hoặc bỏ trốn và bị bắt theo quyết định truy nã tiếp tục phạm tội hoặc bỏ trốn và bị bắt theo quyết định truy nã (Khoản 3 Điều 119 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015).

    - Trường hợp thứ 4: Đối với bị can, bị cáo là phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới ba mươi sáu tháng tuổi, là người già yếu mà nơi cư trú rõ ràng thì không được tạm giam mà áp dụng biện pháp ngăn chặn khác, trừ những trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 119 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 thì vẫn có thể áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam. Những trường hợp đó là: bị can, bị cáo bỏ trốn và bị bắt theo lệnh truy nã; bị can, bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn khác nhưng tiếp tục phạm tội hoặc cố ý gây cản trở nghiêm trọng đến việc điều tra, truy tố, xét xử; bị can. bị cáo phạm tội xâm phạm an ninh quốc gia và có đủ căn cứ cho rằng nếu không tạm giam đối với họ thì sẽ gây nguy hại đến an ninh quốc gia.

    Ngoài bốn trường hợp nêu trên thì Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 còn quy định một số trường hợp ngoại lệ có thể bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam đối với người chưa thành niên phạm tội quy định tại khoản 1, 2, 3, 4 Điều 419 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

     Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định thời hạn áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giạm đối với từng loại tội phạm là khác nhau và đều được ấn định một thời gian nhất định. Trong quá trình giải quyết vụ án nếu xét thấy việc áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam không còn cần thiết thì các cơ quan tiến hành tố tụng có thể áp dụng Điều 125 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 hủy bỏ hoặc thay thế biện pháp ngăn chặn tạm giam bằng các biện pháp ngăn chặn khác. Điều 125 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định:

    “1. Mọi biện pháp ngăn chặn đang áp dụng phải được hủy bỏ khi thuộc một trong các trường hợp:

    a) Quyết định không khởi tố vụ án hình sự;

    b) Đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án;

    c) Đình chỉ điều tra đối với bị can, đình chỉ vụ án đối với bị can;

    d) Bị cáo được Tòa án tuyên không có tội, miễn trách nhiệm hình sự hoặc miễn hình phạt, hình phạt tù nhưng được hưởng án treo hoặc hình phạt cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ.

    2. Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án hủy bỏ biện pháp ngăn chặn khi thấy không còn cần thiết hoặc có thể thay thế bằng biện pháp ngăn chặn khác.
Đối với những biện pháp ngăn chặn do Viện kiểm sát phê chuẩn trong giai đoạn điều tra thì việc hủy bỏ hoặc thay thế bằng biện pháp ngăn chặn khác phải do Viện kiểm sát quyết định; trong thời hạn 10 ngày trước khi hết thời hạn áp dụng biện pháp ngăn chặn, trừ biện pháp tạm giữ do Viện kiểm sát phê chuẩn, cơ quan đã đề nghị áp dụng biện pháp ngặn chặn này phải thông báo cho Viện kiểm sát để quyết định hủy bỏ hoặc thay thế biện pháp ngăn chặn khác.”

    Tạm giam là biện pháp ngăn chặn gắn liền với việc giải quyết vụ án, nó chỉ tồn tại khi có sự tồn tại của vụ án hình sự, vì vậy khi vụ án bị đình chỉ thì việc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn tạm giam là một tất yếu khách quan (điểm b, khoản 1 Điều 125 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015). Bên cạnh đó pháp luật cũng quy định khi xét thấy “không còn cần thiết” tạm giam bị can, bị cáo mà không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án thì cũng có thể hủy bỏ biện pháp ngăn chặn tạm giam hoặc thay thế bằng biện pháp ngăn chặn khác (khoản 2 Điều 125 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015). Tuy nhiên luật không quy định thế nào là “không còn cần thiết”, vì vậy để tránh tình trạng tiêu cực trong việc thay đổi biện pháp ngăn chặn tạm giam thì đòi hỏi người có thẩm quyền của các cơ quan tiến hành tố tụng cần nắm vững quy định của pháp luật với tinh thần trách nhiệm, công minh, khách quan.

    Như vậy, tạm giam là biện pháp ngăn chặn có vị trí quan trọng trong pháp luật tố tụng hình sự, nó cùng với các biện pháp ngăn chặn khác thể hiện rõ nét biện pháp cưỡng chế Nhà nước; đồng thời là phương tiện quan trọng hiệu quả giúp các cơ quan tiến hành tố tụng hoàn thành nhiệm vụ của mình. Việc áp dụng biện pháp ngăn chặn nói chung và biện pháp ngăn chặn tạm giam nói riêng thời gian qua đã phát huy tác dụng to lớn trên mặt trận đấu tranh phòng chống tội phạm, đảm bảo các hoạt động tố tụng đúng quy định của pháp luật. Tuy nhiên thực tế áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam cũng còn một số vi phạm, hạn chế ảnh hưởng đến quyền lợi của công dân. Vì vậy chúng tôi kiến nghị cần sớm nghiên cứu sửa đổi bổ sung những thiếu sót, hạn chế của Bộ luật tố tụng hình sự nói chung và chế định tạm giam nói riêng, hoàn thiện các quy định của pháp luật, tiến hành đồng bộ các giải pháp về chính trị, tư tưởng, đội ngũ cán bộ để từng bước nâng cao hiệu quả áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam.

 

                

                                   Nguyễn Tất Bắc – VKSND huyện Vĩnh Cửu
Các tin đã đăng ngày
Select a date from the calendar.
 
 

 Video

 
Thư viện video
 

 Thư viện ảnh

 
ĐĂNG NHẬP