Thứ 6 - 26/02/2016
Kỷ niệm 75 năm Quốc khánh nước CHXHCN Việt Nam (2/9/1945 - 2/9/2020).
Chào mừng kỷ niệm 60 năm ngày thành lập ngành Kiểm sát nhân dân ( 26/7/1960 - 26/7/2020 ) và 44 năm ngày thành lập ngành Kiểm sát Đồng Nai ( 26/7/1976 - 26/7/2020 )
VKSND tỉnh Đồng Nai thực hiện phiên tòa dân sự sơ thẩm rút kinh nghiệm bằng hình thức trực tuyến

Căn cứ Chỉ thị số 01/CT-VKSTC Ngày 31/12/2020 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao về công tác của Ngành Kiểm sát trong năm 2021; Hướng dẫn số 32 /HD-VKSTC Ngày 30/11/2018 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao; Hướng dẫn so61/HD-VKSTC Ngày 11/01/2021 về công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ việc dân sự, hôn nhân gia đình năm 2021 của Vụ 9 - Viện kiểm sát nhân dân tối cao về “Công tác tổ chức phiên tòa rút kinh nghiệm”; Kế hoạch số 191/KH-VKS Ngày 05/02/2021 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai về việc “Tổ chức phiên tòa dân sự rút kinh nghiệm năm 2021”.
Vừa qua, Phòng 9 – Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai phối hợp với Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai tổ chức phiên tòa rút kinh nghiệm do Kiểm sát viên trung cấp Vũ Thị Mỹ Liên thực hiện kiểm sát hoạt động tư pháp đối với vụ án dân sự sơ thẩm “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” giữa: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Hồng N, sinh năm 1976; Bị đơn: Ông Nguyễn Hữu T, sinh năm 1987 và bà Phạm Thị Thùy Tr, sinh năm 1994.
Tóm tắt nội dung vụ án:
Năm 2015, anh T, chị Tr có nhận chuyển nhượng của bà Nguyễn Thị Hồng N thửa đất thuộc xã Tây Hòa, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai, diện tích ngang 10m dài 30m với số tiền hai bên thỏa thuận là 280.000.000đ. Tuy nhiên khi giao diện tích đất thiếu nên số tiền giảm xuống còn 235.000.000đ. Ngày 08/12/2015 anh và bà N đến Ủy ban nhân dân xã Tây Hòa ký hợp đồng chuyển nhượng. Hợp đồng chuyển nhượng giữa hai bên ký kết ghi giá 12.000.000đ chỉ là hình thức để đóng thuế với nhà nước. Bà N khai bà bất kỳ khoản tiền nào của anh T, chị Tr. Phía bị đơn anh T, chị Tr khai sau khi Ủy ban nhân dân xã chứng thực hợp đồng anh T đã giao số tiền 215.000.000đ cụ thể: Lần 1 anh T đã giao cho bà N số tiền đặt cọc 50.000.000đ; còn lại số tiền 165.000.000đ xong thủ tục sang tên sổ đỏ thì anh T giao cho bà N. Vào thời điểm giao tiền lần 2 thì cán bộ UBND xã Tây Hòa cho anh biết là người đại diện cho bà N nhận số tiền thay bà N và đề nghị địa chính cán bộ UBND xã Tây Hòa giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho anh. Ngay lúc đó cán bộ UBND xã Tây Hòa chia số tiền nêu trên giao cho bà Nguyễn Thị D 84.000.000đ, giao cho bà Cao Thị Bạch T1 81.000.000đ trước mặt anh T, mặc dù anh T không quen biết hai người này. Khi mua bán giữa bà N với anh T và chị Tr, bà Nguyễn Thị D, bà Cao Thị Bạch T1 cũng không có mặt.
Nguyên đơn bà N và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập là các bà Nguyễn Vân Ng, bà Nguyễn Thị Nh, bà Nguyễn Thị H đều thống nhất trình bày, phần đất tranh chấp có diện tích 271 m2 thuộc thửa đất số 716, tờ bản đồ số 11 tại xã Tây Hòa có nguồn gốc được tách ra từ thửa đất số thửa đất 211, tờ số 2 bản đồ địa chính xã Tây Hòa (cũ) (nay là thửa 226 tờ số 11 bản đồ địa chính xã Tây Hòa). Thửa đất 211 trên có nguồn gốc từ cha mẹ các bà là ông Nguyễn Niên T2 và bà Nguyễn Thị X tặng cho các con ở Hoa Kỳ là bà Nguyễn Vân Ng, bà Nguyễn Thị Nh, bà Nguyễn Thị H. Bà N chỉ là người đứng tên giùm.
Để thực hiện thủ tục đứng tên giùm này, cha mẹ các bà có làm “Giấy cho đất có điều” lập Ngày 14/5/2008 xác nhận nội dung tặng cho phần đất có diện tích 5.585m2 thuộc thửa đất 211, tờ bản đồ số 2 tặng cho ba người con là Nguyễn Vân Ng, Nguyễn Thị Nh, Nguyễn Thị H và giao lại cho bà Nguyễn Thị Hồng N đứng tên giùm. Ngoài ra bà Nguyễn Thị Hồng N có làm “Bản cam kết” Ngày 14/5/2008 xác nhận nội dung đứng tên giùm ba người chị là các bà Nguyễn Vân Ng, Nguyễn Thị Nh, Nguyễn Thị H phần đất nêu trên.
Sau đó phần đất này được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất AM 657278, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất H04798, do UBND huyện Trảng Bom cấp ngày 05/8/2008 đứng tên Nguyễn Thị Hồng N.
Đến năm 2015, bà Nguyễn Thị Hồng N bị vỡ hụi nên tự ý tiến hành tách phần đất nêu trên thành nhiều thửa nhỏ để chuyển nhượng cho người khác. Trong số các thửa đất mà bà N tự ý chuyển nhượng có thửa đất số 716, diện tích 271m2 chuyển nhượng cho anh Nguyễn Hữu T và chị Phạm Thị Thùy Tr theo Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số chứng thực 378, quyển số 01/2015-SCT/HĐ.GD được UBND xã Tây Hòa chứng thực Ngày 08/12/2015 và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và T sản gắn liền với đất số CB 948336 do Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh Đồng Nai cấp Ngày 27/10/2015 cho bà N (cập nhật chuyển nhượng cho Nguyễn Hữu T và chị Phạm Thị Thùy Tr Ngày 18/12/2015).
Nguyên đơn bà N khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:
+ Hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được ký kết giữa bà Nguyễn Thị Hồng N với ông Nguyễn Hữu T và bà Phạm Thị Thùy Tr về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất thuộc tọa lạc tại xã Tây Hòa, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai, được Ủy ban nhân dân xã Tây Hòa chứng thực Ngày 08/12/2015.
+ Hủy một phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS 05593 do Sở T nguyên và Môi trường tỉnh Đồng Nai cấp ngày 27/10/2015 đối với phần đăng ký biến động Ngày 18/15/2015 do Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đồng Nai, Chi nhánh Trảng Bom cấp cho anh Nguyễn Hữu T và chị Phạm Thị Thùy Tr.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Vân Ng, bà Nguyễn Thị Nh, bà Nguyễn Thị H có yêu cầu độc lập như sau: Yêu cầu tòa án hủy Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số chứng thực 378, quyển số 01/2015-SCT/HĐ.GD được UBND xã Tây Hòa chứng thực ngày 08/12/2015 và yêu cầu Hủy một phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS 05593 do Sở tài nguyên và Môi trường tỉnh Đồng Nai cấp ngày 27/10/2015 đối với phần đăng ký biến động ngày 18/15/2015 do Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đồng Nai, Chi nhánh Trảng Bom cấp cho anh Nguyễn Hữu T và chị Phạm Thị Thùy Tr.
Xét yêu cầu hủy hợp đồng và yêu cầu tuyên hợp đồng vô hiệu đối với hợp đồng chuyển nhượng QSD đất: Theo chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, bà Nguyễn Thị Hồng N tự ý chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất số 176 tờ bản đồ số 11 tại xã Tây Hòa cho ông T bà Tr khi chưa được sự đồng ý của các chủ sử dụng hợp pháp là các bà Nguyễn Vân Ng, Nguyễn Thị Nh, Nguyễn Thị H, đồng thời bà N cũng không thông tin cho ông T bà Tr biết về việc thửa đất số 176 được tách từ thửa 211 mà bà chỉ có quyền đứng tên giấy CNQSDĐ dùm là vi phạm quy định tại Điều 123, 127 BLDS nên Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số chứng thực 378, quyển số 01/2015-SCT/HĐ.GD được UBND xã Tây Hòa chứng thực ngày 08/12/2015 giữa bà N với anh T và chị Tr là vô hiệu.
Giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu: Theo quy định tại Điều 131 BLDS, giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm giao dịch được xác lập. Vì vậy, bà N nhận lại thửa đất 176, anh T bà Tr nhận lại tiền.
Theo hợp đồng chuyển nhượng, giá chuyển nhượng ghi là 12.000.000đ. Các bên thống nhất giá tiền thực tế các bên thỏa thuận chuyển nhượng là 235.000.000đ, trong đó đã giao, nhận số tiền đặt cọc là 50.000.000đ. Số tiền còn lại 185.000.000đ, anh T, chị Tr khai đã trả cho bà N thông qua việc giao cho bà Nguyễn Thị Dân 84.000.000đ, bà Cao Thị Bạch T1 81.000.000đ. Như vậy, theo lời khai của anh T thì còn 20.000.000đ anh T chưa trả cho bà N.
Bà N không thừa nhận đã nhận số tiền trên như anh T, chị Tr khai cũng như không thừa nhận có việc trả tiền hụi cho bà Dân và bà T1 thông qua việc giao nhận tiền chuyển nhượng đất với anh T. Bà Dân, bà T1 khai được bà N đồng ý trả 1 phần tiền nợ hụi bằng hình thức các bà đến gặp anh T tại UBND xã Tây Hòa và nhận tiền anh T trả bà N tiền chuyển nhượng đất tuy nhiên các bà Dân, T1 cũng không cung cấp được T liệu chứng cứ thể hiện có việc bà N đồng ý cho các bà nhận tiền thay. Ông Trần Hon Quí (Phó chủ tịch UBND xã Tây Hòa) và bà Nguyễn Thị Hồng Vân (Cán bộ tư pháp xã) không thừa nhận việc nói với anh T bà Dân, bà T1 là người đại diện cho bà N nhận số tiền thay bà N. Vì vậy, chỉ có căn cứ xác định anh T đã giao tiền cho bà Dân, bà T1 còn không có căn cứ xác định anh T đã thanh toán 185.000.000đ tiền chuyển nhượng còn lại cho bà N. Do đó, chỉ có căn cứ xác định các bên giao giao nhận cho nhau số tiền 50.000.000đ. Bà N có trách nhiệm trả lại anh T, chị Tr số tiền 50.000.000đ.
Về xác định lỗi dẫn đến hợp đồng vô hiệu là hoàn toàn thuộc về bà N nên bà phải bồi thường toàn bộ thiệt hại. Cụ thể, theo chứng thư thẩm định giá, giá trị thửa đất số 176 có trị giá 1.761.500.000đ, có sự chênh lệch là 1.526.500.000đ (1.761.500.000đ-235.000.000đ) gây thiệt hại cho bên anh T, chị Tr nên bà N phải bồi thường cho anh T, chị Tr số tiền 324.686.550đ (1.526.500.000đ x 21,27% (giá trị đã thanh toán= 50.000.000đ: 235.000.000đ x100%=21,27%))
Về số tiền anh T giao cho bà D và bà T1, dành quyền khởi kiện cho anh T đối với bà D, bà T1 khi anh T có yêu cầu bằng 1 vụ kiện khác.
Xét yêu cầu Hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CB 948336 do Sở tài nguyên và Môi trường tỉnh Đồng Nai cấp ngày 27/10/2015 đối với phần đăng ký biến động ngày 18/12/2015 do Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đồng Nai chi nhánh Trảng Bom cấp quyền sử dụng đất cho anh Nguyễn Hữu T và chị Phạm Thị Thùy Tr
Theo hướng dẫn tại mục 2 phần II Công văn số 64 ngày 03/4/2019 của TANDTC quy định: “…theo quy định của Luật đất đai và Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ thì việc cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc xác nhận nội dung biến động trong trường hợp thực hiện hợp đồng (các trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 105 của Luật đất đai) là thủ tục hành chính trong giao dịch dân sự, không mang tính chất của quyết định hành chính cá biệt; cơ quan, tổ chức có thẩm quyền sẽ thực hiện việc đăng ký biến động, cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên cơ sở kết quả giao dịch có hiệu lực….”. Vì vậy, yêu cầu này của nguyên đơn không có cơ sở để chấp nhận vì bà N và các bà Ng, Nh và H yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CB 948335 do Sở tài nguyên và Môi trường tỉnh Đồng Nai cấp ngày 27/10/2015 đối với phần đăng ký biến động ngày 18/12/2015 do Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đồng Nai chi nhánh Trảng Bom cấp quyền sử dụng đất cho anh Nguyễn Hữu T và chị Phạm Thị Thùy Tr.
Tại phiên tòa sơ thẩm, Kiểm sát viên tham dự phiên tòa tham gia đặt câu hỏi làm rõ các tình tiết nội dung tranh chấp, căn cứ vào hồ sơ vụ án, nguồn gốc đất, lời khai, xác minh có tại hồ sơ, KSV phát biểu đề nghị HĐXX chấp nhận 1 phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Thị Hồng N, người liên quan có yêu cầu độc lập Nguyễn Vân Ng, Nguyễn Thị Nh, Nguyễn Thị H về yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất; Không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn Nguyễn Thị Hồng N; người liên quan có yêu cầu độc lập Nguyễn Vân Ng, Nguyễn Thị Nh, Nguyễn Thị H về yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. HĐXX thống nhất quan điểm giải quyết vụ án của Kiểm sát viên.
Sau khi kết thúc phiên tòa, đơn vị đã tiến hành họp rút kinh nghiệm theo đúng Hướng dẫn số 32/HD-VKSTC Ngày 30/11/2018 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao; Tập thể Lãnh đạo, Kiểm sát viên, công chức của đơn vị đã đưa ra thống nhất đánh giá cao kỹ năng của Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm như xét hỏi, xử lý các tình huống mới phát sinh, tranh luận, đối đáp và phát biểu quan điểm giải quyết vụ án đúng pháp luật được Hội đồng xét xử thống nhất quan điểm, chấp nhận đề nghị của VKS.
Qua phiên tòa rút kinh nghiệm, đội ngũ Kiểm sát viên, đội ngũ chuyên viên Phòng 9 - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai đều tích lũy được kiến thức, rút ra được kinh nghiệm cho bản thân trong quá trình nghiên cứu, giải quyết vụ án. Thấy được vai trò, trách nhiệm của Kiểm sát viên tại các phiên tòa để từ đó có ý thức hoàn thiện bản thân, chủ động học hỏi, rèn luyện để nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ năng nghiệp vụ bằng việc tích cực tham gia các phiên tòa rút kinh nghiệm cũng như các chương trình đào tạo khác của cơ quan./.
Nguyễn Thị Bích Ngọc - Phòng 9 - VKS tỉnh Đồng Nai


Đang cập nhật bài hát.

Liên kết webiste

Số lượt truy cập

TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI

Địa chỉ: số 1/6K đường Nguyễn Ái Quốc - Phường Bửu Long - TP. Biên Hoà - tỉnh Đồng Nai

Điện thoại: 02513.817980 - Fax: 02513.825376​